Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Đừng tự làm thầy thuốc cho con

Tự chẩn đoán bệnh
 Khi con mình bệnh, thay vì đưa con đi khám để bác sĩ chẩn đoán và chỉ định thuốc, một số cha mẹ đã tự ý chẩn đoán bệnh và mua thuốc cho trẻ dùng.
Trong một số ít trường hợp, việc tự ý dùng thuốc cho trẻ không dẫn đến sự nguy hại nào hoặc có khi trẻ chỉ bị rối loạn nhẹ, không có những tổn thương thực thể đáng kể.
Tuy nhiên, việc tự ý dùng thuốc cho trẻ có thể dẫn đến các tác hại không lường hết. Đã có trường hợp trẻ bị cảm sốt nhẹ nhưng cha mẹ lại cho dùng kháng sinh cloramphenicol thường xuyên, sau một thời gian trẻ bị “thiếu máu bất 
sản” dẫn đến tử vong.
Phụ huynh không nên tự ý tùy tiện mua và sử dụng bất cứ một loại thuốc gì khi trẻ chưa được thầy thuốc khám bệnh, kê đơn
Phụ huynh không nên tự ý tùy tiện mua và sử dụng bất cứ một loại thuốc gì khi trẻ chưa được thầy thuốc khám bệnh, kê đơn

Sử dụng toa thuốc cũ
Một số bà mẹ tự ý sử dụng đơn của bác sĩ đã kê cho con trong lần khám bệnh trước để mua thuốc dùng cho trẻ trong lần bệnh sau (khi trẻ có những triệu chứng giống hoặc na ná lần bệnh trước).
Cần lưu ý, một đơn thuốc bác sĩ ghi sau khi khám chẩn đoán bệnh chỉ dành riêng cho một cá nhân vào một thời điểm và trong điều kiện nhất định nào đó thôi.
Bệnh cũ có thể bị tái phát nhưng lần này tiến triển đến mức nặng hơn hoặc triệu chứng bệnh có vẻ giống như bệnh cũ nhưng lần này lại là bệnh khác.
Vì vậy, dùng toa thuốc cũ là không đúng, thậm chí còn nguy hiểm...
Dùng không đúng hoặc không đủ liều
Nhiều bậc cha mẹ có tâm lý sợ thuốc gây hại cho con nên tự ý điều chỉnh liều của bác sĩ (thay vì cho trẻ dùng 3-4 lần trong ngày, lại chỉ dùng 1-2 lần/ngày), hay do cho uống thuốc không đúng cách (như pha thuốc vào bình sữa cho trẻ bú và trẻ không bú hết bình sữa), hoặc cha mẹ cho trẻ dùng thuốc quá liều do tâm lý nôn nóng muốn trẻ mau hết bệnh đã dồn liều thuốc uống trong ngày thành uống một lần duy nhất.
Uống như thế liều tăng lên gây hại, hoặc dùng dụng cụ đo lường thuốc không chính xác (như dùng muỗng ăn ở nhà đong đo thể tích thuốc sirô cho trẻ thay vì dùng 
dụng cụ được cung cấp).
Dùng dạng thuốc không thích hợp cho trẻ
Dạng thuốc thích hợp cho trẻ là dạng thuốc lỏng (sirô, thuốc uống giọt, hỗn dịch, nhũ dịch) nhưng có trường hợp cha mẹ dùng thuốc dành cho người lớn là thuốc viên nén, nghiền viên thuốc ra thành bột mịn và phân liều cho trẻ uống.
Làm như thế có thể lấy liều không đúng hoặc phá hỏng dạng thuốc, gây hại cho trẻ.
Ngoài các sai lầm kể trên, còn có một số sai lầm cha mẹ mắc phải mà mức độ không nghiêm trọng lắm khi cho con dùng thuốc như hù dọa, tạo không khí căng thẳng thay vì mềm mỏng, kiên trì thuyết phục trẻ uống thuốc. Hoặc cha mẹ trộn thuốc vào bột, sữa hay thức ăn, thức uống.
Trẻ kén ăn hay nhạy cảm mùi vị sẽ phản ứng, từ chối thức ăn mà trước đây trẻ ưa thích. Đối với trẻ lớn hơn, trộn thức ăn như thế trẻ sẽ cho là mình bị đánh lừa và 
mất lòng tin ở cha mẹ.



6 nguyên nhân gây dậy thì sớm ở trẻ


1. Béo phì và thừa cân
Nếu biểu đồ tăng trưởng của trẻ cho thấy phát triển cân nặng chênh lệch so với chiều cao, đó là dấu hiệu đáng lo đầu tiên, thêm vào đó là những nguy hại của béo phì. Chúng ta cần theo dõi chỉ số khối cơ thể của trẻ để biết tình trạng thừa cân và béo phì vì tất cả những điều này dẫn tới thay đổi hormon, gây dậy thì sớm.
Dư thừa mỡ hoặc mô mỡ trong cơ thể làm thay đổi hàm lượng estrogen, insulin và leptin - điều này làm tăng nguy cơ dậy thì sớm. Cách tốt nhất để tránh béo phì là khuyến khích trẻ tăng cường các hoạt động ngoài trời ít nhất 3 lần mỗi tuần, 35 phút/lần.
2. Các hóa chất môi trường
BPA - một hóa chất được tìm thấy trong hộp nhựa, màng bọc thực phẩm, chất hàn răng, chai đựng nước và đồ chứa thực phẩm khác - có thể ngấm vào thực phẩm và gây tàn phá bên trong cơ thể. 
Trên thực tế, có nhiều nghiên cứu cho thấy phơi nhiễm với BPA là một trong những nguyên nhân chính gây dậy thì ở bé gái. Phthalates - một dạng khác của hóa chất tiềm ẩn có trong mỹ phẩm, keo xịt tóc và chất khử mùi - cũng có thể dẫn tới phát triển ngực sớm ở bé gái.
Dậy thì được coi là sớm nếu khởi phát trước 8 tuổi ở bé gái và trước 9 tuổi ở bé trai
Dậy thì được coi là sớm nếu khởi phát trước 8 tuổi ở bé gái và trước 9 tuổi ở bé trai
3. Hấp thu nhiều đồ ăn vặt không lành mạnh
Đồ ăn vặt là một trong những nguyên nhân chính gây béo phì ở trẻ. Hàm lượng chất béo động vật cao làm tăng yếu tố tăng trưởng giống insulin, dẫn tới dậy thì sớm. Đây là một tình trạng phổ biến ở những trẻ hấp thu mỡ động vật cao ở độ tuổi 3-7 tuổi.
Mặt khác, hấp thu nhiều protein chay giúp trì hoãn quá trình dậy thì và cũng bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Điều này không có nghĩa bạn cần cấm trẻ ăn thịt. Tuy nhiên, cần hạn chế tối đa những loại thịt chế biến sẵn, thịt đỏ, chỉ nên ăn 2-3 lần mỗi tuần.
4. Thay đổi hormone
Xã hội và truyền thông cũng chịu trách nhiệm về khởi phát dậy thì sớm ở trẻ em. Quá nhiều bạo lực, tiếp xúc sớm với những nội dung dành cho người lớn, tất cả đều có ảnh hưởng tới não, đặc biệt là tuyến yên. Tuyến này khi bị kích thích sẽ bài tiết ra gonadotropin, kích thích các tinh hoàn hoặc buồng trứng sản sinh hormone giới tính testosteron và estrogen, từ đó gây dậy thì sớm.
5. Suy dinh dưỡng
Một số trẻ không ăn nhiều và kén ăn, điều này có thể khiến cha mẹ để chúng ăn uống tự do những thực phẩm nhiều đường và chất béo. Những trẻ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng vẫn có nguy cơ dậy thì sớm do thói quen ăn uống sai lầm làm gián đoạn chu kỳ nội tiết.



Cảnh báo tổn thương não từ việc rung trẻ dưới 1 tuổi

Khi trẻ khóc quấy, nhiều người có thói quen đung đưa, lắc mạnh hay sốc trẻ để dỗ dành. Tuy nhiên, việc này có thể gây ra hội chứng rung lắc ở trẻ nhỏ, gây tổn thương não bộ.



Thứ ba, 16/02/2016 16:25

Cảnh báo tổn thương não từ việc rung trẻ dưới 1 tuổi

Khi trẻ khóc quấy, nhiều người có thói quen đung đưa, lắc mạnh hay sốc trẻ để dỗ dành. Tuy nhiên, việc này có thể gây ra hội chứng rung lắc ở trẻ nhỏ, gây tổn thương não bộ.



Nghiên cứu mới đây của các chuyên gia Hàn Quốc cảnh báo thói quen rung lắc, đung đưa để dỗ dành trẻ rất nguy hiểm, có thể gây tổn thương não và để lại những di chứng nặng nề với trẻ dưới 1 tuổi. Hộp sọ của trẻ ở tuổi này còn khá mềm và có những khoảng trống để não tiếp tục phát triển nên việc rung lắc có thể khiến não trẻ bị bầm tím, sưng và xuất huyết, dẫn đến việc tổn thương não vĩnh viễn, thậm chí tử vong.

Điều đáng nói, những biểu hiện của hội chứng này lại không rõ ràng, nên các bậc phụ huynh khó có thể phát hiện. Giáo sư Chae Soo-Ahn tại Khoa Nhi, bệnh viện Đại học Chung-Ang, Hàn Quốc cho biết: "Những trẻ có biểu hiện nhẹ thì hay cáu gắt hơn bình thường, một số trẻ khác bị rối loạn tiêu hóa. Thông thường trẻ biếng ăn, ngủ lịm hoặc không chịu chơi đùa, nặng hơn trẻ sẽ bị khó thở, cứng cổ, thậm chí co giật."

Các bác sĩ khuyến cáo các bậc phụ huynh không được rung lắc trẻ trong bất cứ trường hợp nào và nên cho con đi khám định kỳ để kiểm soát tình trạng sức khỏe của bé. Ngoài ra, khi đi ô tô, nên cho trẻ ngồi ở ghế riêng và thắt dây an toàn để tránh va đập nếu phanh gấp.



Viêm đường tiết niệu: bệnh nhỏ, nguy cơ lớn

Là bệnh nhiễm trùng hay gặp thứ hai, chỉ sau viêm nhiễm đường hô hấp, nếu không được chữa trị kịp thời, viêm đường tiết niệu sẽ khiến bé nhà bạn phải đối mặt với những hậu quả nặng nề.

Mẹ đoảng, con bệnh…
Vừa qua, BV Nhi Trung ương tiếp nhận một ca bệnh khá đặc biệt. Bệnh nhân là một bé gái chưa đầy một tuổi, nhập viện trong tình trạng sốt cao, co giật mạnh, quấy khóc liên hồi… Bước đầu thăm khám, bác sĩ thấy “vùng kín” của bé tấy đỏ. Gia đình cho biết, hiện tượng này đã xuất hiện mấy hôm nay nên đã tự mua thuốc chống hăm về bôi cho bé, nhờ đó đã… đỡ nhiều.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Sau khi giảm sốt và chống co giật, bé được đưa đi làm xét nghiệm nước tiểu. Kết quả cho thấy, đường tiết niệu của bé bị viêm nhiễm nặng và bệnh đang có dấu hiệu lan xuống bàng quang. Đến lúc này, gia đình mới hoảng hốt vì cứ ngỡ những vết tấy đỏ kia chỉ là hăm do đóng bỉm hàng ngày. Cũng may, bé được gia đình đưa vào cơ sở uy tín nên đã phát hiện ra bệnh trước khi để lại những hậu quả nặng nề hơn.
Là người từng thăm khám cho nhiều bệnh nhi bị viêm đường tiết niệu, BS Hồ Mai Hoa, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Hà Nội cho biết: “Khi nghe chuẩn đoán lâm sàng là bé có thể bị viêm đường tiết niệu, hầu hết các gia đình đều không tin vì họ nghĩ đây là bệnh của người lớn, bệnh chỉ xảy ra với những người đã và đang có hoạt động tình dục, chứ trẻ con thì không thể. Tuy nhiên, thực tế thì trẻ em vẫn có thể mắc bệnh này nếu không được vệ sinh cơ quan sinh dục đúng cách”.
Theo BS Hoa, viêm đường tiết niệu là bệnh do vi khuẩn gây ra. Nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ già đến trẻ, từ trai đến gái. Theo các số liệu thống kê, ở Việt Nam, viêm đường tiết niệu là bệnh nhiễm trùng hay gặp thứ hai, chỉ sau nhiễm trùng về hô hấp.
Dù bệnh hay xảy ra với người lớn, song ở trẻ nhỏ, tỷ lệ nhiễm bệnh cũng dao động từ 2,4-2,8%, hay gặp nhất là ở trẻ dưới một tuổi do thường xuyên đóng bỉm. Bởi vì khi đóng bỉm, phân và nước tiểu lẫn nhau, vi khuẩn dễ chui lên đường tiểu gây bệnh. Ở trẻ lớn hơn, viêm đường tiết niệu thường xảy ra khi trẻ vệ sinh cơ quan sinh dục không sạch sẽ hoặc chùi mông đít sau khi đi đại tiện không đúng cách.
Cụ thể, thay vì chùi từ trước ra sau, bé không biết nên đã chùi từ sau ra trước, khiến vi khuẩn ở phân có cơ hội xâm nhập vào đường tiểu. Chính bởi vậy, “nếu mẹ đoảng, mẹ thiếu kiến thức, mẹ không hướng dẫn con cẩn thận thì các bé rất dễ mắc bệnh”, BS Hoa khẳng định.
Cần nhận biết sớm các dấu hiệu
Theo BS Hoa, do bộ phận sinh dục và đường tiết niệu rất gần nhau nên chỉ cần lơ là trong việc vệ sinh “vùng kín” là các bé sẽ dễ dàng mắc bệnh. Tỷ lệ này ở bé gái cao gấp 5 lần bé trai nên các mẹ có con gái cần đặc biệt chú ý.
Ở trẻ nhỏ, viêm đường tiết niệu thường khó phát hiện và thường bị nhầm lẫn với các bệnh khác nên cha mẹ cần chú ý đến những biểu hiện bất thường ở bé. Chẳng hạn, khi thấy bé đi tiểu nhiều lần trong ngày mà mỗi lần chỉ được chút ít hay khi xi bé tiểu, nếu thấy bé phải rặn tiểu hay kêu đau, kiểm tra không thấy vết xước quanh đó, rất có thể bé đang bị viêm đường tiết niệu. Đặc biệt, trẻ bị viêm đường tiết niệu nước tiểu thường có mùi hôi khác thường, rất khó ngửi nên cha mẹ cũng cần chú ý đến dấu hiệu này.
Ngoài ra, bé cũng có thể bị sốt cao không rõ nguyên nhân hay kém ăn, không lên cân, hay quấy khóc… Với các bé lớn hơn, khi bị viêm đường tiết niệu, do cảm giác khó chịu, bé thường có xu hướng sờ vào cơ quan sinh dục. Với các bé đang đóng bỉm, khi thay bỉm, cha mẹ cần xem có cặn trắng ở bỉm hay không. “Các biểu hiện này có thể bùng phát rầm rộ hay diễn biến âm thầm nên cha mẹ thường chuẩn đoán nhầm bệnh cho con.
Đặc biệt, khi trẻ còn quá nhỏ (dưới 3 tuổi), do không biết miêu tả những triệu chứng mà mình đang gặp phải nên cha mẹ thường bắt bệnh theo phán đoán của mình. Việc này là vô cùng nguy hiểm. Thế nên, nếu thấy các biểu hiện không bình thường ở trẻ, cách tốt nhất là đưa trẻ đi khám, tuyệt đối không tự ý mua thuốc về điều trị”, BS Hoa khuyến cáo.
Vẫn theo BS Hoa, nếu không được chữa trị kịp thời trong giai đoạn cấp, viêm nhiễm ở đường tiết niệu có thể lan sâu vào trong, dẫn đến viêm bàng quang, viêm thận, tạo sỏi ở thận. Đối với trẻ nam, đường tiết niệu cũng là đường sinh dục nên nó sẽ dẫn đến viêm đường sinh dục, ảnh hưởng đến chức năng sinh sản. Đối với trẻ nữ, viêm đường tiết niệu không được chữa trị kịp thời sẽ gây viêm âm đạo, nặng hơn là viêm cổ tử cung, tắc vòi trứng…
Để phòng tránh viêm đường tiết niệu ở trẻ, theo bác sĩ Hoa, cha mẹ cần dạy bé cách đi vệ sinh tự chủ, tránh tình trạng tè dầm, ị đùn. Mỗi lần đi vệ sinh, cần chùi từ trước ra sau, tuyệt đối không để chất bẩn có cơ hội xâm nhập vào đường tiểu của bé. Bên cạnh đó, cha mẹ cần cho bé ăn nhiều rau, hoa quả, uống nhiều nước để giúp hệ bài tiết của bé hoạt động tốt hơn.



Các dấu hiệu cảnh báo bé chậm nói và những việc mẹ cần làm


Không phải ngẫu nhiên mà một đứa trẻ 1 tuổi có thể nói được ngay. Từ khi còn trong bụng mẹ đến suốt 1 năm đầu đời, bé học hỏi dần dần kỹ năng ngôn ngữ bằng cách nghe người lớn nói chuyện, quan sát khẩu hình miệng để bắt chước phát âm. 
Để rồi khi được 9 tháng - 1 tuổi bé sẽ bập bẹ những câu đầu tiên. Mới đầu bé chỉ có thể phát âm những từ ngữ đơn giản, một âm tiết như mẹ, ba, bà, bố, ăn… Dần dần mới có thể nói được những câu hoàn chỉnh.
Để tránh trường hợp trẻ chậm nói, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện, mẹ cần hiểu các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ sau đây.
Khi còn trong bụng mẹ
Ngay khi ở trong bụng mẹ, kỹ năng ngôn ngữ của bé đã phát triển. Khi bé quen với nhịp tim của mẹ, bé bắt đầu làm quen với giọng nói của mẹ. Dần dần bé phân biệt được giọng nói của mẹ với các âm thanh khác. Bởi thế mà các nhà khoa học vẫn khuyến khích mẹ bầu nên nói chuyện với bé mỗi ngày. Đây là bước khởi đầu, tạo nền tảng quan trọng cho bé phát triển và hoàn thiện kỹ năng ngôn ngữ sau này.
Sau khi sinh đến khi được 3 tháng tuổi
Sau khi sinh, khóc là phương tiện giao tiếp duy nhất của bé. Sau đó đến khi được 3 tháng tuổi, bé sẽ được làm quen với rất nhiều âm thanh khác nhau. Đây là giai đoạn đầu tiên trong quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Bé có thể gào khóc to khi đói, khóc thút thít rên rỉ khi muốn thay tã bẩn hay phát ra những âm thanh khoái chí khác khi bé lớn hơn.
Các dấu hiệu cảnh báo bé chậm nói và những việc mẹ cần làm
Giai đoạn 4-7 tháng tuổi
Giai đoạn này bé sẽ cố phát âm những âm thanh nghe hơi giống từ “mẹ mẹ, “ma ma”, “baba” hoặc “tata”. Thực sự bé vẫn chưa hiểu được ý nghĩa của từ ngữ, nhưng bé lại rất thích nghe và nhìn khẩu hình miệng khi bố mẹ nói chuyện với bé. Bé cũng có khả năng ghi nhớ tên của mình. Mẹ gọi tên bé và bé sẽ quay về hướng có tiếng gọi. Giai đoạn này bố mẹ cần nói chuyện với bé nhiều hơn để bé học được thêm nhiều từ mới.
Giai đoạn 8-12 tháng
Giai đoạn này bé bắt đầu biết bập bẹ nói. Cách tốt nhất để khuyến khích bé nói nhiều là nói chuyện nhiều hơn với bé. Mẹ cũng có thể đọc sách, kể chuyện, hát hoặc cho bé nghe nhạc.
Giai đoạn 12-18 tháng
Giai đoạn này vốn từ của bé đa dạng hơn rất nhiều. Bé có thể nói 2 từ cùng một lúc, hiểu cơ bản ý nghĩa của một số từ và biết chỉ đồ vật mà bé muốn biểu đạt. Đến 18 tháng tuổi, bé có thể nói câu ngắn như mẹ ơi, mẹ bế, bố ngồi, bố ăn…Nếu đến 13 tháng tuổi mà bé chưa thể bập bẹ nói bất cứ từ gì, bố mẹ cần đưa bé đến bệnh viện để khám.
Giai đoạn 2 tuổi
Khi được 2 tuổi, vốn từ của bé được mở rộng. Bé biết ít nhất 50 từ và có thể hiểu ý nghĩa của những từ ngữ, câu nói xung quanh bé, cho dù từ đó bé chưa thể phát âm được. Giai đoạn này bé phải nói được một câu có ít nhất 3-4 từ.
Giai đoạn 3 tuổi
Từ 2-3 tuổi, bé học hỏi thêm nhiều từ ngữ mới rất nhanh. Đến khi bước sang tuổi thứ 4, bé có thể nói một câu rất dài và biết biểu đạt trọn vẹn ý muốn của mình.
Khi nào mẹ cần lo lắng
Có một số dấu hiệu nhận biết sớm trẻ chậm nói hoặc gặp vấn đề về ngôn ngữ, mẹ cần chú ý, nhất là trong giai đoạn 12-24 tháng tuổi.
- Trẻ không sử dụng ngôn ngữ hình thể, không biết cách chỉ đồ vật hoặc vẫy chào tạm biệt sau khi tròn 1 tuổi.
- Trẻ sử dụng nhiều động tác hơn là dùng lời nói để giao tiếp khi được 18 tháng tuổi.
- Trẻ 18 tháng tuổi gặp khó khăn khi bắt chước ngôn ngữ. Dấu hiệu này có thể do thính giác của bé có vấn đề.
- Gặp khó khăn hoặc không hiểu các yêu cầu cơ bản.
Những dấu hiệu mẹ cần chú ý khi bé hơn 2 tuổi:
- Trẻ có thể bắt chước ngôn ngữ và hành động nhưng không thể tự phát ra từ và câu.
- Trẻ chỉ sử dụng một số từ ngữ nhất định, không thể tự sử dụng từ để giao tiếp ngoại trừ dùng những câu/ từ bắt chước.
- Gặp khó khăn khi nghe theo lời hướng dẫn.
- Âm giọng khác thường.
- Không sử dụng giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện.
Cần làm gì để tránh nguy cơ bé chậm nói
- Chú ý đến các dấu hiệu sớm.
- Tham khảo ý kiến bác sỹ chuyên môn.
- Nói chuyện càng nhiều càng tốt với bé.



Làm gì khi trẻ bị nôn, trớ?



Nôn trớ là triệu chứng hay gặp ở trẻ nhỏ do đặc điểm của bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, cơ tâm vị yếu, dạ dày còn ở tư thế nằm ngang. Nôn trớ cũng là biểu hiện ở nhiều bệnh khác nhau hoặc dị tật ở đường tiêu hóa. Hậu quả của nôn trớ kéo dài sẽ làm cho trẻ biếng ăn chậm lớn, suy dinh dưỡng và nguy hiểm đến tính mạng.
Phân biệt nôn và trớ
Nôn là hiện tượng thức ăn trong dạ dày bị đẩy ra ngoài do sự co bóp của cơ trơn dạ dày và sự co thắt của cơ thành bụng.
Trớ là hiện tượng thức ăn trào ngược đơn thuần sau khi ăn không có sự co thắt của cơ thành bụng và thường là thức ăn chưa tiêu hóa.
Nguyên nhân nôn trớ ở trẻ nhỏ
Nôn trớ liên quan đến ăn uống
Do chế độ ăn hoặc cách cho ăn như cho trẻ ăn quá nhiều, bú quá no, ngậm vú giả, pha sữa, bú bình không đúng cách, ăn thức ăn mới lạ... Một số trẻ không dung nạp hoặc dị ứng sữa bò khi ăn thường bị tiêu chảy. Do vậy cần điều chỉnh cách cho trẻ ăn. Chia thức ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, không ép trẻ ăn quá no. Trẻ bú mẹ thì sau khi bú xong bế trẻ 10-15 phút rồi mới đặt trẻ nằm.
Nếu trẻ bú bình với núm vú giả thì khi cho ăn cần nghiêng bình sao cho sữa ngập cổ bình để tránh nuốt phải không khí vào dạ dày dễ gây nôn. Pha sữa đúng công thức và nên cho trẻ ăn bằng thìa hoặc uống bằng cốc. Nếu trẻ không dung nạp lactose sữa bò thì thay thế bằng sữa không có lactose, sữa chua, sữa đậu nành. Trẻ bị dị ứng sữa bò thì cho ăn sữa đã được thủy phân protein thành axit amin.
Làm gì khi trẻ bị nôn, trớ?
Không cho trẻ ăn quá no để hạn chế nôn trớ
Nôn do rối loạn thần kinh thực vật gây co thắt môn vị
Hay gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi vì trẻ thường phải ăn thức ăn lỏng dù sữa mẹ hay sữa bò. Nôn xuất hiện sớm trong những ngày đầu sau đẻ, chất nôn là nước sữa hoặc sữa đông vón tùy theo thời gian sữa lưu lại dạ dày. Trẻ vẫn háu ăn, cơ thể phát triển bình thường, ít bị sụt cân.
Để giảm bớt nôn trớ ở trẻ đang bú mẹ hoặc ăn sữa bò thì sau khi ăn xong bế trẻ thẳng người, đầu hơi cao 5-10 phút rồi nghiêng trẻ bên trái 10 phút để không khí từ dạ dày thoát qua tá tràng rồi chuyển sang nằm nghiêng bên phải để thức ăn trong dạ dày dễ qua môn vị xuống ruột. Sau đó đặt trẻ nằm ngửa.
Nôn trớ cũng sẽ giảm dần khi trẻ bắt đầu ăn chế độ đặc ở thời kỳ ăn bổ sung. Ngoài ra có thể sử dụng thuốc chống nôn motilium, primperan.
Nôn do bệnh lý. Do nhiễm khuẩn hay gặp ở trẻ bị tiêu chảy, viêm mũi họng, viêm phổi, viêm màng não. Trẻ nôn thường kèm theo sốt.
Bệnh ngoại khoa tiêu hóa: lồng ruột, tắc ruột, viêm ruột non hoại tử... nôn thường xảy ra đột ngột và kèm theo các triệu chứng đặc hiệu của từng bệnh.
Luồng trào ngược dạ dày thực quản: là hiện tượng thức ăn trong dạ dày trào lên thực quản. Nôn trớ thường xuất hiện sớm sau đẻ, nôn trớ sau khi ăn, khi trẻ nằm hoặc khi trẻ khóc. Số lượng chất nôn ít và thường là sữa mới ăn vào.
Trào ngược dạ dày thực quản có thể là hiện tượng sinh lý bình thường không ảnh hưởng đến phát triển cơ thể và tự khỏi.
Nhưng cũng có thể là bệnh lý thì ngoài triệu chứng nôn còn gây viêm loét thực quản và kèm theo một số biến chứng của đường hô hấp do hít phải chất trào ngược có thể tử vong đột ngột. Do vậy, những trẻ bị nôn do bệnh lý cần được khám và điều trị tại cơ sở y tế.
Nôn do dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa
Dị tật thực quản: Thực quản bị hẹp, giãn to hoặc ngắn. Nôn thường xuất hiện sớm ngay từ những ngày đầu sau đẻ, nôn ngay sau khi ăn. Thực quản ngắn làm cho dạ dày bị kéo lên phía ngực, trẻ lại luôn ở tư thế nằm cho nên các chất trong dạ dày dễ trào ngược qua tâm vị và gây viêm niêm mạc thực quản, chất nôn không chỉ là sữa mà còn có cả chất nhày, máu.
Hẹp phì đại môn vị: là do phì đại và co thắt cơ môn vị gây hẹp tắc môn vị làm cản trở thức ăn từ dạ dày xuống tá tràng. Nôn xuất hiện muộn khoảng 2-3 tuần sau đẻ, nôn nhiều lần, nôn vọt mạnh, nôn liên tục sau khi ăn. 
Chất nôn là sữa hoặc sữa đông vón đọng lâu trong dạ dày. Trẻ táo bón sụt cân nhanh nhưng vẫn háu ăn. Thăm khám bụng thấy có sóng nhu động dạ dày hoặc sờ thấy u cơ môn vị di động nằm ở bờ trước gan. Nếu trẻ bị nôn do dị tật đường tiêu hóa cần được xử trí ngoại khoa.
Tóm lại, khi trẻ bị nôn trớ cần tìm nguyên nhân để xử trí kịp thời nhưng cần lưu ý khi trẻ bị nôn thì nên đặt trẻ nằm nghiêng để chất nôn không bị hít vào đường thở, tránh cho trẻ bị sặc.



Mẹo chăm sóc giúp mắt con trong veo, sáng đẹp từ nhỏ

Ao ước con có đôi mắt to đẹp, trong veo, long lanh là mong muốn của tất cả các bà mẹ. Để đảm bảo cho đôi mắt trẻ luôn đẹp, khỏe mạnh, linh hoạt từ nhỏ đến lớn, mẹ hãy tham khảo những lời khuyên về cách chăm sóc mắt cho trẻ dưới đây:

Kích thích sự phát triển của mắt cho bé bắng đồ chơi

Khi bé bắt đầu học bò, mẹ hãy dùng những đồ chơi có màu sắc tươi sáng để thu hút sự chú ý của bé. Điều này không những giúp bé kích thích khả năng về tầm nhìn ở bé mà còn khuyến khích hiệu quả vận động tay-mắt.

Vệ sinh mắt hàng ngày cho bé

Khi bé ngủ dậy hoặc khi tắm, mẹ nên vệ sinh mắt cho bé trước tiên với các bước như sau:

Vệ sinh tay mẹ sạch sẽ trước khi vệ sinh mắt cho bé

Dùng một miếng bông gòn sạch nhúng vào nước rồi vắt để miếng bông gòn có độ ẩm

Lau nhẹ nhàng mắt bé từ phía khóe mắt ra đến đuôi mắt

Dùng hai miếng bông gòn khác nhau cho hai mắt để tránh lây nhiễm chéo vi khuẩn từ mắt này sang mắt kia.

meo cham soc giup mat con trong veo, sang dep tu nho - 1Cần vệ sinh mắt hàng ngày cho bé để đảm bảo bé có đôi mắt khỏe mạnh, sạch sẽ, sáng đẹp. (Ảnh minh họa) 
Bổ sung thực phẩm bổ mắt cho bé
Mẹ cần đảm bảo nước ấm vừa phải, lau nhanh và gọn gàng để bé cảm thấy thoải mái, dễ chịu nhất.
Từ 6 tháng tuổi trở đi, bé bát đầu ăn dặm là mẹ có thể bổ sung vào thực đơn cho con những món ăn bổ mắt, giúp bé có đôi mắt sáng đẹp, thị lực tốt như
- Rau lá xanh đậm như rau cải bó xôi, cải rổ, cải xoăn,...
- Các loại cá chứa dầu như cá hồi, cá ngừ,...
- Trứng và những nguồn đạm thực vật như các loại đậu, hạt,...
- Hoa quả tươi giàu vitamin và khoáng chất
Đeo kính râm cho bé khi trời nắng
Mẹ đừng quên đeo kính râm cho bé khi ra ngoài trời nắng. Điều này sẽ giúp bé chống lại những tia cực tím có hại từ mặt trời mà mắt thường không thể nhình thấy, giúp giảm nguy cơ đục thủy tinh thể và lão hóa mắt sớm.



 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons