This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015
Để trẻ không bị rôm sảy trong mùa nắng nóng
Rôm sảy là căn bệnh thường gặp ở trẻ, đặc biệt vào mùa hè. Điều trị và phòng tránh rôm sảy thông thường không khó nhưng nếu bệnh để nặng và phát triển thành mụn nhọt, việc điều trị sẽ trở nên vô cùng phức tạp.
Nguyên nhân gây ra rôm sảy
Mùa hè thời tiết nóng nực thường gây ra các bệnh về da ở trẻ, trong đó có bệnh rôm sảy. Trẻ dưới 3 tuổi thường có nguy cơ mắc bệnh cao.
Nguyên nhân chính là do thời tiết nóng bức, mồ hôi trẻ tiết ra nhiều nhưng không thoát được hết và ứ đọng lại trong các ống bài tiết trên da trẻ . Trong khi đó, miệng ống bài tiết dễ bị bụi hay ghét bít kín khiến làn da nổi lên nhiều sẩn nhỏ lấm tấm màu hồng.
Những sẩn nhỏ này mọc thành từng đám và thường xuất hiện ở những vùng da có nhiều mồ hôi, chẳng hạn như: trán, cổ, lưng, ngực, các nếp gấp của cơ thể…
Thông thường, khi thời tiết mát mẻ, hiện tượng này sẽ tự động mất đi và không gây tác hại gì. Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, rôm sảy sẽ chuyển biến thành mụn mủ và nhọt, chủ yếu là ở các trẻ không được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, da bị xây xước và nhiễm trùng. Nếu không được điều trị và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, trẻ còn có nguy cơ bị viêm da mãn tính (da không tiết mồ hôi) hay viêm cầu thận cấp (tuy hiếm gặp nhưng vô cùng nguy hiểm).
Điều trị rôm sảy
Với chứng rôm sảy thông thường: nếu trên da trẻ xuất hiện các mảng sần đỏ thì việc đầu tiên là nhanh chóng làm thoáng mát phần da này.
Da trẻ có dấu hiệu nhiễm khuẩn như: các nốt rôm to khác thường, chứa nhiều mủ trắng, xuất hiện các mụn nhọt... cần có chế độ chăm sóc thích hợp cho trẻ:
- Nếu chỉ có 1-2 nhọt bắt đầu mọc, dùng cồn iod chấm vào đúng chỗ nhọt hoặc dùng cao tiêu nhọt dán lên. Khi nhọt bắt đầu mềm, đưa trẻ đến các cơ sở y tế để chích mủ.
- Trong trường hợp nhọt mọc liên tiếp và mọc dày thì phải đưa trẻ đến ngay bệnh viện để bác sĩ tìm ra nguyên nhân.
Một số mẹo chữa rôm sảy:
Thông thường, các bà mẹ có thể sử dụng phấn rôm để chữa rôm sảy cho trẻ. Cách dùng là bôi lên những vùng da bị rôm sảy của trẻ sau khi đã tắm và lau người sạch sẽ. Tuy nhiên, cần lưu ý đến chất lượng và sự kiểm định y tế của loại phấn rôm chọn cho trẻ, tránh tình trạng càng làm bít tắc da trẻ hoặc tạo môi trường cho vi khuẩn và nấm da phát triển mạnh hơn.
Có thể sử dụng các loại kem có thành phần hydrocortisone (tác dụng trị rôm sảy), hay kem có chứa acid salicylic (tác dụng khô bề mặt da, se lỗ chân lông) để thoa cho trẻ sau khi tắm xong.
Ngoài ra, có thể sử dụng một số mẹo dân gian như: dùng mướp đắng, gừng tươi, lá dâu tằm… để tắm hoặc bôi lên các vết rôm cho trẻ hàng ngày, cũng rất hữu ích.
Nếu đã thử nhiều cách mà vẫn không giúp trẻ khỏi rôm sảy, nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa da liễu.
Phòng tránh rôm sảy cho trẻ
Vệ sinh sạch sẽ:
Tắm cho trẻ mỗi ngày để giữ da luôn sạch sẽ, mồ hôi bài tiết dễ dàng. Dùng nước mát để tắm và tắm bằng sữa tắm chuyên dùng cho trẻ, tránh các loại sữa tắm có độ kiềm lớn, gây khô da.
Có thể vắt thêm một quả chanh vào nước tắm hoặc dùng mướp đắng để tắm cho trẻ cũng rất tốt, có tác dụng phòng rôm sảy.
Việc ăn mặc và chế độ dinh dưỡng:
Cho trẻ mặc những quần áo bằng chất liệu mỏng, rộng rãi và nhạt màu.
Tốt nhất là nên chọn các loại sợi tự nhiên, thấm mồ hôi và tránh các loại vải dày, vải nylon bí mồ hôi.
Khi đưa trẻ ra ngoài, nên cho mặc áo chống nắng, đeo kính râm, đội mũ rộng vành, đeo khẩu trang và thoa kem chống nắng cho trẻ.
Khuyến khích trẻ uống đủ nước, ăn nhiều các vitamin có trong rau xanh, trái cây tươi và hạn chế các thức ăn quá ngọt như: chocolate, kẹo bánh…
Không cho trẻ uống bất cứ loại kháng sinh nào khi chưa có ý kiến của bác sĩ.
Chế độ sinh hoạt:
Tạo cho trẻ một môi trường và chế độ sinh hoạt hợp lý.
Phòng của trẻ nên thoáng mát, rộng rãi. Hạn chế cho trẻ đến những nơi hội họp đông người, không khí nóng ngột ngạt.
Không nên để trẻ ra ngoài khi trời nắng nóng, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều.
Hạn chế trẻ gãi lên da bị rôm sảy, dễ gây trầy xước làm nhiễm trùng da.
BS. TRẦN QUỐC NINH
Viêm xoang trẻ em và bệnh trào ngược dạ dày - thực quản
Ở trẻ em, bệnh viêm mũi xoang thường kéo dài dai dẳng. Nếu không phát hiện được bệnh và nguyên nhân gây bệnh để điều trị kịp thời, đúng đắn có thể dẫn đến các biến chứng xấu như viêm phế quản, viêm tai giữa, viêm mắt, viêm màng não... kết quả làm ảnh hưởng tới thể chất của trẻ. Một trong những yếu tố liên quan tới bệnh viêm xoang trẻ em là hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản.
Viêm mũi xoang có thể gặp ở cả người lớn và trẻ em, tiến triển kéo dài và có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Ở trẻ em, bệnh có biểu hiện lâm sàng khá phức tạp với các triệu chứng không điển hình do sự phối hợp nhiều nguyên nhân khác nhau như yếu tố cơ địa, mối liên quan tới quá trình hình thành và phát triển các xoang, cũng như ảnh hưởng của các bệnh lý các cơ quan lân cận. Chính vì vậy, cha mẹ thường chủ quan, nhiều khi tự điều trị các triệu chứng như nghẹt mũi, sốt... tại nhà. Nếu có đưa tới bác sĩ thì việc thăm khám lâm sàng ở trẻ em cũng gặp nhiều khó khăn như trẻ sợ hãi, khóc lóc, không hợp tác, hốc mũi nhỏ nên việc phát hiện đầy đủ các triệu chứng là rất khó khăn, khó đánh giá hết các vị trí tổn thương nên thường có những sai lầm trong chẩn đoán, dẫn đến kết quả điều trị bị hạn chế. Nguyên nhân gây bệnh xoang ở trẻ em thì có nhiều như dị ứng với môi trường, khói bụi, hít phải nước bẩn, ô nhiễm như tại ao hồ, sông suối khi bơi lội, hoặc bội nhiễm từ các bệnh lý liên quan như viêm họng... Ngoài ra còn có một nguyên nhân khác là trào ngược dạ dày - thực quản (DD-TQ).
Trào ngược DD-TQ là một hội chứng gây ra do nhiều nguyên nhân. Nhìn chung ở khía cạnh liên quan, nó làm cho dịch dạ dày trào ngược lên vùng mũi họng gây nên axit hóa vùng niêm mạc này dẫn đến những rối loạn trong quá trình hoạt động của hệ thống lông nhày, viêm nhiễm niêm mạc gây phù nề bít tắc lỗ thông mũi xoang dẫn tới viêm mũi xoang.
Trào ngược DD-TQ thật ra là khá phổ biến ở trẻ nhỏ. Theo thống kê, đây được xem như một hiện tượng sinh lý bình thường do sự phát triển còn non nớt của hệ tiêu hóa ở trẻ nhỏ. Ước tính có hơn 50% trẻ khỏe mạnh có tiền sử trào ngược DD-TQ trong 3 tháng đầu đời. Con số này tăng lên 67% ở thời điểm 4 tháng tuổi. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ thoái lui khi trẻ lớn lên nhờ các cấu trúc của đường tiêu hóa dần hoàn chỉnh và chế độ ăn cũng đặc dần. Ở thời điểm 8 tháng tuổi thì có đến 85% trẻ bị trào ngược sẽ hết triệu chứng và chỉ khoảng 5% trẻ tiếp tục vẫn bị trào ngược sau thời điểm 1 tuổi. Nhóm trẻ này sẽ dễ có nguy cơ xuất hiện các biến chứng của trào ngược, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ và tình trạng trào ngược sinh lý trước kia giờ trở thành bệnh lý, đó là bệnh trào ngược DD-TQ.
Cơ chế bệnh sinh gây viêm mũi xoang cấp tính là do phù nề bít tắc lỗ thông mũi xoang, ứ đọng các dịch tiết trong xoang gây viêm xoang cấp, các lông chuyển và hệ thống dịch nhày bị giảm hoạt động và khó khôi phục trở lại. Lỗ thông mũi xoang ở trẻ nhỏ hẹp hơn ở người lớn, niêm mạc lại dễ bị phù nề làm lỗ thông mũi xoang bị tắc, sự thông khí giữa mũi xoang bị mất, dẫn đến sự giảm ôxy trong xoang làm áp lực trong xoang giảm, niêm mạc xoang dày lên và tăng xuất tiết, suy giảm chức năng của hệ thống lông nhày từ đó gây viêm xoang.
Lỗ thông mũi xoang không chỉ có vai trò thông khí mà còn rất quan trọng trong vai trò dẫn lưu để đảm bảo quá trình dẫn lưu dịch từ xoang ra mũi. Khi lỗ thông này bị tắc làm mất đi chức năng dẫn lưu, các chất xuất tiết ứ đọng trong xoang làm rối loạn chức năng của hệ thống lông nhày, đồng thời tạo ra sự giảm áp lực trong xoang hút ngược chiều dịch từ mũi vào xoang kèm cả vi khuẩn gây viêm xoang. Như vậy, từ một viêm xoang cấp dần dần chuyển thành viêm xoang mạn tính.
Hiện nay, tỷ lệ trẻ mắc các chứng bệnh dạ dày ngày càng tăng, tuổi mắc cũng ngày càng nhỏ. Vì vậy, khi trẻ bị viêm xoang cần nghĩ tới một trong những yếu tố liên quan là trào ngược DD-TQ. Điều trị bệnh viêm xoang do trào ngược cần kết hợp điều trị bệnh viêm xoang và bệnh trào ngược DD-TQ thì mới có hiệu quả. Bên cạnh đó, cha mẹ, người thân của trẻ nên chú ý những triệu chứng sau đây của bệnh viêm xoang để kịp thời đưa trẻ tới bác sĩ: chảy mũi mủ qua cửa mũi trước và sau, xuống họng; ngạt tắc mũi từng lúc hoặc thường xuyên; hay khịt khạc; ho; hơi thở hôi; đau đầu hoặc đau nhức kích thích vùng mặt từng đợt hoặc liên tục; thay đổi tính tình; nôn trớ nhiều; nuốt khó; trẻ ợ khó sau khi ăn; từ chối ăn, thường phải ép ăn.
Ngược lại, cần phát hiện sớm hội chứng trào ngược thực quản ở trẻ để phòng ngừa bệnh gây biến chứng viêm xoang.
ThS. Phạm Thị Bích Thủy
Viêm xoang ở trẻ em
Viêm xoang có thể gặp ở trẻ em kể cả trẻ sơ sinh. Tuy nhiên tần suất rất hiếm, khoảng 0,1% trong tổng số các bệnh nhân bị viêm xoang và viêm xoang ở trẻ sơ sinh chủ yếu là viêm hệ thống xoang sàng.
Viêm xoang ở trẻ em khác gì với người lớn?
Viêm xoang trẻ em khác với người lớn, đây không phải là người lớn thu nhỏ mà ở lứa tuổi này hệ thống xoang đang trong giai đoạn hình thành và phát triển. Hệ thống xoang mặt bắt đầu được hình thành từ tuần thứ tư của thời kỳ bào thai, xuất phát từ một tế bào sàng. Tế bào sàng phát triển xâm lấn vào các xương để tạo thành các xoang khác nhau như xâm lấn vào xương trán tạo xoang trán, xâm lấn xương hàm trên tạo xoang hàm và xâm lấn vào xương bướm để hình thành xoang bướm. Chính vì vậy các xoang có liên hệ mật thiết với nhau nên thường bị viêm nhiều xoang cùng một lúc. Xoang sàng có ngay từ khi trẻ ra đời nhưng những các xoang khác được tạo thành dần: xoang hàm có khi trẻ 3-4 tuổi, xoang trán và xoang bướm chỉ xuất hiện khi trẻ được 7- 8 tuổi. Hệ thống xoang chỉ hoàn thiện ở người 20 tuổi.
Kích thước các xoang của trẻ rất nhỏ, đôi khi mới chỉ là một rãnh hằn vào xương làm cho việc chẩn đoán bệnh gặp nhiều khó khăn vì các triệu chứng thường không điển hình và khó khai thác được chính xác.
Trẻ nào thường bị viêm xoang?
Trong các thập niên gần đây, bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em có xu hướng gia tăng, hay gặp nhất là các trẻ có cơ địa dị ứng hoặc sống trong môi trường ô nhiễm, hít phải khói thuốc lá thụ động, hơi khói của các khu công nghiệp, bếp than..., sự giảm dần của diện tích cây xanh trong môi trường sống. Tỷ lệ viêm xoang ở trẻ em lên tới 1,7% số bệnh nhân bị mắc bệnh tai mũi họng học đường (điều tra của Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương năm 2005).
Tỷ lệ trẻ em trai mắc bệnh viêm mũi xoang tương đương với trẻ em gái (trai là 54%, gái là 46%).
Phân biệt viêm xoang với viêm đường hô hấp trên
Làm thế nào để phân biệt trẻ bị viêm xoang với một đợt viêm đường hô hấp trên cấp tính vì trong một năm trẻ có thể mắc từ 6-8 lần? Chẩn đoán viêm mũi xoang ở trẻ nhỏ chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng khi thăm khám. Diễn biến và biểu hiện bệnh như sau:
Sau một đợt viêm mũi họng cấp kéo dài trên 1 tuần (viêm nhiễm đường hô hấp trên chỉ kéo dài trung bình 5-7 ngày là hết), trẻ vẫn còn sốt nhẹ, người mệt mỏi, xì mũi màu vàng, xanh đặc, có mùi hôi. Trẻ thường xuyên có cảm giác chảy đờm từ mũi xuống họng nên hay bị ho, nhất là ban đêm khi ngủ. Hơi thở hôi và dễ nôn oẹ. Trẻ bú không được dài hơi như khi đang khỏe do tắc mũi. Trẻ hay quấy khóc, thở ngáy, ngủ không ngon giấc, mệt mỏi kèm theo hốc mắt có quầng thâm. Trẻ lớn hơn hay phàn nàn bị đau đầu nặng mặt, dễ buồn ngủ. Đôi khi trong đợt viêm cấp mặt trước của má bị sưng nề đỏ, ấn đau hoặc có biểu hiện sưng nề, đóng bánh ở góc trong ổ mắt do hiện tượng viêm xoang sàng rò mủ ra ngoài da.
Khám bệnh thấy tình trạng niêm mạc mũi bị phù nề, xuất tiết nhiều dịch, khe giữa đọng nhiều mủ vàng xanh. Một số trường hợp viêm mũi xoang lâu ngày dẫn tới hình thành polip mũi. Tổ chức V.A ở trần vòm trong tình trạng quá phát và đọng mủ.
Quan sát họng miệng thấy mủ vàng xanh bám đầy thành sau họng xuống tận dưới hạ họng.
Màng tai thường dày đục và lõm, một số trẻ có hiện tượng ứ đọng dịch trong hòm tai-viêm tai giữa thanh dịch - do sự thông khí kém giữa tai và mũi họng.
Chụp Xquang xoang thường như phim Blondeau, Hirtz chỉ cân nhắc thực hiện khi nghi ngờ có biến chứng của viêm xoang do ảnh hưởng nặng nề của tia chụp với trẻ nhưng thật sự cũng khó đánh giá tình trạng viêm xoang của trẻ trên hai phim này vì mặt trước của xoang bị các mầm răng cản trở. Nếu thấy thật cần thiết chỉ nên chụp phim cắt lớp vùng xoang để đánh giá chính xác tình trạng của bệnh.
Khi trẻ bị viêm xoang cần điều trị như thế nào?
Điều trị nội khoa là chính từ 4-6 tuần với kháng sinh toàn thân nhóm b lactam hoặc macrolid kết hợp với thuốc chống viêm, giảm phù nề, chống dị ứng.
Tại chỗ dùng các thuốc nhỏ mũi nhóm co mạch, chống viêm, giảm xuất tiết để làm thông thoáng lỗ dẫn lưu xoang.
Chỉ định phẫu thuật chỉ đặt ra khi điều trị nội khoa sau 6 tháng thất bại hoặc có những biến chứng của viêm xoang theo chỉ định chặt chẽ của các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.
ThS. Phạm Bích Đào
Tăng tiết mồ hôi ở trẻ em
Tăng tiết mồ hôi ở trẻ em có thể là bẩm sinh do cường hệ thần kinh giao cảm, bệnh thường có tính chất gia đình cha hay mẹ bị bệnh thì con cũng có khả năng bị bệnh. Một nguyên nhân khác là bệnh nhân có thể bị bệnh khác như viêm nhiễm đường hô hấp, suy dinh dưỡng… thiếu canxi hoặc các khoáng chất khác.
Bệnh nhân cần đến bệnh viện để khám và đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh lên sức khỏe bệnh nhân và từ đó có hướng điều trị cụ thể, vì ở trẻ emviệc điều trị phải hết sức cẩn thận nhằm tránh những tai biến và biến chứng nguy hiểm. Ngay cả việc sử dụng thuốc cũng vậy, cần phải đúng chỉ định và đúng liều lượng.
PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam
Chữa chứng đái dầm ở trẻ em
Theo Y học cổ truyền, nguyên nhân gây chứng đái dầm do thận khí hư hàn không khế ước được bàng quang; do cơ thể suy nhược, tỳ, phế khí hư hoặc do can kinh uất nhiệt, thói quen xấu của trẻ em.
Do thận chủ sinh dục tiết niệu, chủ nhị tiện, chủ tiền âm và hậu âm, thận hư không thể thu nhiếp, cố sáp nước tiểu được gây nên đái dầm.
Cần chú ý phân biệt tình trạng đái dầm dề, không tự chủ trong các bệnh lý thần kinh: tai biến mạch máu não, tổn thương tuỷ sống, u não… gây rối loạn cõ vòng gây nên với chứng đái dầm.
Đái dầm theo y học cổ truyền có những thể bệnh và chứng trạng khác nhau và được điều trị bằng bài thuốc tương ứng với mỗi thể bệnh như sau:
Mộc thông
|
Thể thận dương hư
Chứng trạng:
Tiểu tiện trong, nhiều, nhỏ giọt không dứt, sắc mặt trắng bệch, sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối mỏi yếu, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm tế vô lực.
Pháp điều trị: Ôn bổ thận dương
Bài thuốc:
Nhục quế 3g, Phụ tử 9g, Thỏ ty tử 30g, Câu kỷ tử 15g, Tiên mao 12g, Tiên linh tỷ 12g, Ô dược 12g, Ích trí nhân 12g, Sơn dược 15g, Sinh cam thảo 6g.
Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.
Thể phế tỳ khí hư
Chứng trạng:
Luôn muốn đi tiểu, sắc mặt tối xám, hụt hơi mất sức, kém ăn, bụng dưới chướng, phân nát, chất lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế vô lực.
Pháp điều trị: Bổ tỳ ích khí
Bài thuốc:
Đẳng sâm 15g, Hoàng kỳ 30g, Chích cam thảo 6g, Bạch truật 9g, Sài hồ 9g, Thăng ma 9g, Tang phiêu tiêu 12g, Long cốt 30g, Ngũ vị tử 6g.
Sắc uống ngày 1 thang. Chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.
Thể can kinh uất nhiệt
Chứng trạng:
Tiểu tiện nhiều lần, nhỏ giọt, sắc vàng đỏ, bứt rứt dễ cáu, lòng bàn tay chân nóng, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt mỏng, mạch huyền.
Pháp điều trị: Tả can thanh nhiệt
Bài thuốc:
Long đởm thảo 6g, Hoàng cầm 12g, Sơn chi 12g, Sài hồ 9g, Đương quy 12g, Sinh địa 12g, Hoạt thạch 15g, Xa tiền tử 15g, Mộc thông 9g, Sơn thù nhục 6g, Bổ cốt chỉ 15g, Sinh cam thảo 6g.
Sắc uống ngày 1 thang. Chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.
Đào nhân
|
Thể hạ tiêu ứ trệ
Chứng trạng:
Tiểu tiện nhỏ giọt không thông, bụng dưới chướng đầy ngâm ngẩm đau, có thể sờ thấy cục báng, chất lưỡi tím tối hoặc có ban ứ, rêu lưỡi mỏng, mạch sáp.
Pháp điều trị: Hoạt huyết hoá ứ
Bài thuốc:
Đương quy 12g, Xuyên khung 12g, Xích thược 12g, Bồ hoàng 12g, Sài hồ 9g, Ngũ linh chi 9g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 12g, Chỉ xác 9g, Sinh cam thảo.
Sắc uống ngày 1 thang. Chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.
Phòng bệnh:
- Buổi tối không nên uống nhiều nước, cơm tối ăn nhiều thức ăn khô, ít uống canh.
- Nếu thuộc trường hợp đái dầm ở trẻ em, chú ý buổi tối tránh hưng phấn quá độ, ban đêm định giờ gọi trẻ dậy đi tiểu, để hình thành được phản xạ đi tiểu theo thời gian nhất định.
Lương y Vũ Quốc Trung
Dấu hiệu nhận biết các bệnh ung thư ở trẻ em cha mẹ phải biết
Với mong muốn đồng hành cùng trẻ em ung thư, bác sĩ Phạm Thị Việt Hương đã xây dựng ý tưởng này để tuyên truyền trong cộng đồng về bệnh ung thư trẻ em.
Các bệnh nhi được bác sĩ Hương tư vấn về điều trị bệnh ung thư.
Thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) cho thấy, thế giới có khoảng 250.000 trẻ em đang bị mắc bệnh ung thư, trong đó 50.000 trẻ được chẩn đoán có tỷ lệ sống sót là 80% và 200.000 trẻ còn lại chỉ có khoảng 25% sống sót.
Số ca ung thư nhi mắc mới ước tính trong một năm ở trẻ dưới 19 tuổi khoảng 4.200 trường hợp. Trong số này, có 2.000 trẻ ung thư máu, 900 trẻ u não, còn lại là u nguyên bào thần kinh, u thận, u xương, u phần mềm...
Bạch cầu là căn bệnh ung thư gặp nhiều nhất ở trẻ em, chủ yếu ở lứa tuổi từ 3-4 tuổi, ngoài ra, có tới 23% tỷ lệ ung thư được chẩn đoán ở trẻ dưới 15 tuổi.
Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh ung thư khá cao, trong đó ung thư máu chiếm 30% trong các thể ung thư. Ung thư gây tử vong rất lớn nhưng có tới 40% trường hợp mắc ung thư có thể phòng ngừa được và chữa khỏi nếu được phát hiện sớm.
Bệnh ung thư ở trẻ em có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm. Tuy nhiên, nhiều trẻ khi nhập viện đã ở trong giai đoạn muộn nên tỷ lệ tử vong do ung thư ở trẻ em vẫn còn cao.
Vì thế việc nhận biết các triệu chứng của bệnh để đưa con đến bệnh viện điều trị sớm nhất là một điều cực kỳ quan trọng.
Chính vì thế, thạc sĩ, bác sĩ Phạm Thị Việt Hương đã có ý tưởng tổ chức dự án Đồng hành cùng trẻ em Ung thư.
Bác sĩ Hương hi vọng với chương trình này bác sĩ và các tình nguyện viên có thể tuyên truyền thật sâu rộng về bệnh ung thư trẻ em trong cộng đồng.
Tại buổi nói chuyện với hàng trăm bệnh nhân bị ung thư và người thân của họ ở ngay sảnh của khoa Nhi, Bệnh viện K Hà Nội, bác sĩ Hương cho biết ung thư ở trẻ em ngày một tăng.
Tuy nhiên, đến nay bệnh viện đã có những tiến bộ về phương pháp và kĩ thuật chữa trị. Trẻ ung thư sẽ được điều trị tích cực như hoá chất, phẫu thuật, tia xạ và kết hợp liệu pháp trị liệu tâm lí sẽ cho kết quả khả quan.
Tại Khoa Nhi (Bệnh viện K), trẻ được chơi tại các khuôn viên như trong trường mẫu giáo, nhà trẻ.
Trẻ được vẽ, xem hoạt hình, nghe ca nhạc thiếu nhi, chơi đồ chơi, được làm quen với máy tính, được liên hoan và nhận quà trong dịp Tết thiếu nhi, Tết Trung thu; được các bác sĩ tổ chức sinh nhật...khiến trẻ luôn vui vẻ, phấn chấn, quên bớt đau đớn.
Bác sĩ Hương cho biết để lên ý tưởng cho những công việc càng ngày càng mới này, đi làm về chị lại nghĩ ngày mai mình sẽ làm gì để cho các bé cảm thấy bớt tẻ nhạt khi xung quanh chỉ có phòng bệnh và truyền dịch.
Bác sĩ Hương đã tổ chức buổi đầu tiên trong dự án Đồng hành cùng trẻ em ung thư của mình. Các bác sĩ đã tư vấn chế độ dinh dưỡng cho trẻ em trong và sau điều trị.
Trẻ cần có sức khoẻ để điều trị lâu dài, vì vậy cha mẹ cần bổ sung các vitamin hoặc dùng các thuốc hỗ trợ giúp cho quá trình phục hồi cơ thể nhất là tuỷ xương, gan sau điều trị triệt để bằng hoá chất, tia xạ sẽ nhanh chóng giúp trẻ hồi phục sức khoẻ.
Kiên trì điều trị rất quan trọng đối với bệnh nhi ung thư. Không giống các bệnh khác, ung thư phải chữa lâu dài, bền bỉ và gian truân cho người đi thăm nuôi.
Bệnh bạch cầu cấp ở trẻ ít nhất cũng phải sau 2 năm mới dám khẳng định chữa khỏi hoàn toàn. Kinh phí điều trị cho 1 ca bệnh bạch cầu khoảng trên dưới 100 triệu đồng.
Trong thực tế, nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đi lại xa xôi, neo người, thiếu hiểu biết về bệnh ung thư nên đã chùn bước khi mới điều trị được ít tháng.
Nhiều người vẫn nghĩ ung thư nghĩa là cái chết đang đến với con họ, chỉ là thời gian nhanh hay chậm mà thôi thế là họ bỏ cuộc, buông xuôi.
Bệnh ung thư ở trẻ được phát hiện sớm, điều trị kịp thời có cơ hội chữa khỏi hoàn toàn rất cao.
Nếu đưa trẻ đến viện muộn, sức khoẻ của trẻ quá yếu sẽ khiến cho công tác điều trị gặp khó khăn, tốn kém thuốc men và tiền của nhưng hiệu quả không cao.
Lí do đưa trẻ tới viện muộn cũng bởi sự thiếu hiểu biết về căn bệnh ung thư ở trẻ nhỏ của người lớn. Nhiều người không ngờ trẻ cũng có thể mắc ung thư nên rất chủ quan không lưu ý tới trẻ.
Khi thấy con “khó ở” trong người, họ tự mua thuốc cho con uống. Chữa mãi không thấy đỡ mới cho đi trạm xá, bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh nên khi đến được viện K trung ương thì có bé đã cận kề "lưỡi hái tử thần".
Mặc dù các triệu chứng và biểu hiện của bệnh ung thư tuỳ thuộc vào dạng bệnh, vị trí trong cơ thể nhưng 85% trẻ ung thư có dấu hiệu như sau:
- Khối u hoặc sưng nề bất thường ở ổ bụng.
- Sốt kéo dài không lý giải được.
- Mệt mỏi, xanh xao, sút cân nhanh.
- Dễ xuất hiện vết bầm tím và chảy máu không lý giải được.
- Đau kéo dài không lý giải được, đau đầu kèm theo nôn.
- Thay đổi đột ngột khả năng thăng bằng hoặc thay đổi đột ngột hành vi.
- Đầu bị sưng nề.
- Xuất hiện vệt sáng trắng ở mắt.
Nhận biết trẻ bị dị ứng sữa
Hiện tượng dị ứng sữa thường xảy ra trong 3 năm đầu đời. Nếu bị dị ứng sữa, trẻ thường có các biểu hiện như tiêu chảy, nôn trớ nhiều lần và có thể nôn cả những khi chưa được bú mẹ. Một số trẻ còn có các biểu hiện như phát ban, quấy khóc liên tục và không nín trong một thời gian dài, hay đánh hơi. Về lâu dài, trẻ có thể sút cân, chậm lớn và ảnh hưởng đến hệ hô hấp… Trường hợp con chị, nên cho cháu đi khám tại cơ sở y tế chuyên khoa Nhi. Nếu bé bị dị ứng với sữa bò, người mẹ cần đảm bảo chế độ ăn uống đầy đủ để có đủ sữa cho con bú mẹ hoàn toàn. Chỉ tính đến ăn sữa công thức khi mẹ không đủ sữa mà thôi. Việc ăn thêm sữa ngoài, có thể chuyển sang bổ sung thêm cho bé sữa đậu nành.
Nếu trẻ bị dị ứng sữa bò có thể cho bé uống bổ sung sữa đậu nành.
Nếu dùng sữa đậu nành vẫn bị dị ứng, lúc đó cần sử dụng sản phẩm có thành phần ít gây phản ứng dị ứng. Sau vài tháng, thậm chí có thể tới 12 tháng, bạn mới có thể tập cho bé ăn lại sữa bò nhưng phải rất từ từ để cơ thể bé có thể làm quen và thích ứng dần.
Ngay cả khi đã xác định không phải bé bị dị ứng sữa bò, bạn nên tập cho bé dùng sữa từ từ. Có thể dùng thìa bón cho bé, khi cho ăn, nên đổ sữa vào dưới lưỡi hoặc vào hai bên má. Sau khi con ăn, nên theo dõi và thăm dò thái độ cũng như sự phản ứng của cơ thể bé. Nếu được, những ngày sau bạn mới từ từ tăng số lượng lên.


Thứ Bảy, tháng 6 06, 2015
doanh nhan