Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Phát hiện và điều trị chứng tự kỷ ở trẻ em

Ngày nay hiện tượng tự kỷ được xem là một trong các dạng loạn tâm thần ở trẻ em. Nhiều bậc phụ huynh đau buồn vì đã có một đứa con có những hành vi mà họ không thể hiểu nổi. Các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, các hành vi của trẻ tự kỷ thường là kết quả của những rối loạn trong sự phát triển từ khi trẻ mới ra đời hoặc trong những năm đầu và đa số là do thể chất chứ không hoàn toàn do cách nuôi dạy của cha mẹ.
Thế nào là tự kỷ?
Tự kỷ là tự phong toả, có những rối nhiễu đặc hiệu trong việc không thể thiết lập các mối quan hệ tương tác với xã hội bên ngoài. Đây là một tình trạng khiếm khuyết phức tạp về khả năng phát triển của não bộ tiến triển trong 3 năm đầu của bé, thường xảy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào, không lệ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ phát triển của cha mẹ. Chứng tự kỷ làm cho đứa trẻ mất khả năng giao tiếp, nhất là về phương tiện ngôn ngữ và có thể gây tổn thương cho chính đứa trẻ vì các hành động tự gây hại và quấy phá của trẻ.
Tự kỷ là một hội chứng
Tự kỷ không phải một căn bệnh đơn độc mà nó bao gồm các hội chứng như:
Hội chứng Asperger: Một số biểu hiện ở trẻ như là vụng về, sợ leo trèo. Hầu hết các trẻ này còn vụng về trong cả việc đi đứng. Khi  bước đi chúng vung vẩy hai tay và chúi đầu về phía trước, chúng chạy một cách lúng túng, vươn dài hai cánh tay ra. Khi lên cầu thang thì thường đi từng bước một mặc dù chúng đã lớn để có thể bước một cách bình thường. Nhiều trẻ lại hay tạo ra các tư thế đặc biệt. Những nét dị thường này ngày càng dễ nhận ra khi trẻ lớn lên và rõ nhất ở tuổi thiếu niên và trưởng thành.
Bên cạnh đó còn có những rối loạn khác như rối loạn tự kỷ sớm, rối loạn phát triển lan toả không đặc hiệu. Hội chứng Rett, rối loạn nhân cách tuổi nhỏ.
 Dạy cho trẻ tự kỷ.
Tự kỷ cũng là một rối loạn tâm thần
Nhận biết những dấu hiệu của trẻ tự kỷ
- Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác.
- Thể hiện hành động rất giống nhau trong cách lựa chọn các thói quen hằng ngày.
- Không hề nói năng hoặc cách nói rất kỳ dị, nói tùy thích.
- Rất thích xoay chuyển các đồ vật và thao tác khéo léo hoặc có những tác động định hình.
- Có khả năng cao về không gian, có trí nhớ vẹt trong khi lại rất khó khăn trong học tập các lĩnh vực khác.
- Bề ngoài có vẻ nhanh nhẹn, thông minh, dễ thương.
Những biểu hiện như trên có thể nhận biết từ khi trẻ 12 - 30 tháng tuổi.
Ngày nay hiện tượng tự kỷ được xem là một trong các dạng loạn tâm thần ở trẻ em. Các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy các hành vi của trẻ tự kỷ thường là kết quả của những rối  loạn trong sự phát triển từ khi trẻ mới ra đời hoặc trong những năm đầu và đa số là do thể chất chứ không hoàn toàn do cách nuôi dạy của cha mẹ.
Đa số trẻ tự kỷ thường khó khăn rõ rệt khi tập thể dục và trong các trò chơi, chúng có thể bắt chước một số động tác đơn giản nhưng khi các động tác phức tạp hơn thì trẻ không thể nắm bắt được, nhất là các trò chơi phối hợp với đồng bạn.
Một điều nghịch lý là trẻ rất khó khăn khi nói nhưng lại có khả năng nhại lại lời nói của người lớn trong khi lại rất khó khăn trong lập lại các động tác. Các trẻ nhỏ thường bị xem là điếc vì hầu như không có phản ứng gì khi có người nói chuyện với chúng kể cả tiếng động rất lớn. Một số trẻ tỏ ra đặc biệt ưa thích hay sợ hãi một loại tiếng động nào đó. Một số trẻ tỏ ra ưa thích với hình ảnh, ánh sáng, âm thanh, màu sắc của vô tuyến.
Trẻ có thể liếm và ngửi người khác như những món đồ ăn. Có những trẻ không cảm thấy nóng hay lạnh. Nhiều trẻ tỏ ra không biết đau khi bị ngã, gãy xương, vết trầy xước, ngược lại cũng có trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi đau một chút là khóc rất lâu. Có một số trẻ chỉ thích ăn một số món nhất định, đó là một dạng chống đối sự thay đổi. Trẻ thường uống khá nhiều nước. Tất cả các phản ứng này sẽ thay đổi theo thời gian có khi giảm dần, biến mất hoặc có khi nảy sinh những phản ứng ngược lại, tất cả đều tùy thuộc vào cách chăm sóc và hướng dẫn trẻ.
Cần chú ý những điểm sau đây: Không bao giờ dám cởi áo, vì đó là chiếc vỏ bọc an toàn; không dám nhảy từ trên cao xuống, đó là những nỗi lo sợ bắt nguồn từ sự bồng ẵm không an toàn khi được bế bồng lúc còn nhỏ; lúc nào cũng chạy lăng xăng, hỗn loạn đó chính là thái độ của trẻ, trẻ đang tìm lại chính mình. Những trẻ này không ý thức được rằng: mình chỉ có một thân thể duy nhất, hay chính là đứa trẻ đang tìm cách chạy trốn thoát khỏi sự kìm kẹp của người lớn; đặc biệt là các loại hành vi; hành vi lặp đi lặp lại một số động tác; hành vi thích nghi hay cứng nhắc; hành vi thiếu thích thú, không biết vui đùa.
Tóm lại, trước một đứa trẻ có bất thường về tâm vận động nên đưa trẻ đến các cơ sở y tế có các chuyên khoa thần kinh, tâm thần, chuyên viên tâm lý lâm sàng, chuyên viên tâm vận động, chuyên viên chỉnh âm, giáo dục viên đặc biệt để có sự tư vấn, có phương hướng giáo dục đặc biệt. Không được chủ quan trước những hành vi khác thường của trẻ, nếu để lâu sẽ làm bệnh ngày một trầm trọng và thiệt thòi cho sự phát triển của trẻ sau này. 
 

  PGS.TS. Ninh Thị Ứng

Phát hiện sớm điếc ở trẻ em

Theo các chuyên gia y tế, trẻ bị điếc được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì có khả năng phục hồi thính giác, nhất là đối với trẻ dưới 2 tuổi. Với những trẻ sinh non, suy hô hấp, nhiễm trùng sơ sinh, mẹ bị bệnh trong khi mang thai… cần phải lưu ý hơn để tránh trường hợp trẻ bị câm do điếc sớm.
Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều nguyên nhân gây bệnh điếc cho trẻ em, trong đó những nguyên nhân cơ bản sau:
Do di truyền: Gen câm điếc nằm trên nhiễm sắc thể thường, di truyền do gen trội hay gen lặn đều có thể dẫn đến điếc.
Do nguyên nhân mắc phải khi người mẹ khi mang thai đã dùng thuốc kháng sinh nhóm aminoglycosid hoặc do tai biến khi sinh đẻ như sinh non, nhẹ cân, vàng da, nhiễm trùng tai, viêm màng não…
 Đo thính lực cho trẻ. Ảnh: TL
Phát hiện sớm khắc phục trẻ bị cẩm
Theo số liệu thông kê của Bệnh viện Nhi trung ương nước ta hiện có gần nửa triệu người bị điếc, trong đó trẻ em chiếm 0,1% - 0,5%. Số trẻ em bị điếc ngày một gia tăng, ước tính mỗi năm có thêm 50.000 trẻ bị điếc. Vậy làm thế nào để nhận biết và ngăn chặn tình trạng này?     
Khi được 5 tháng tuổi, thấy trẻ có các dấu hiệunhư: Không phản ứng với tiếng động lớn đột ngột. Không bị đánh thức bởi tiếng ồn; Không xoay đầu theo hướng giọng nói của người thân; Không làm theo hoặc không hiểu các hướng dẫn của cha mẹ hay người thân thì cần phải đưa trẻ đến bệnh viện khoa tai mũi họng để kiểm tra mức ưđộ nghe.
Trẻ dưới 8 tháng tuổi: Trẻ không giật mình khi nghe tiếng vỗ tay to từ khoảng cách 0,9 - 1,8m hoặc không có phản ứng gì trước tiếng nói của bạn.
- Từ 1 đến 1 tuổi rưỡi: Trẻ không sử dụng được một số từ đơn như bà, mẹ... hoặc không thể phân biệt các bộ phận khi được gợi ý.
- Với trẻ 2 tuổi: Trẻ không thể làm theo những yêu cầu đơn giản mà thiếu những gợi ý bằng hình ảnh, hành động hoặc không thể lặp lại các cụm từ.
- Với trẻ 3 tuổi: Trẻ không thể định hướng được nơi phát ra âm thanh hoặc không hiểu và không sử dụng được những từ như đơn giản.
Vì vậy, nghi ngờ trẻ bị điếc, nghe kém (nhất là trong dòng họ có nhiều người bị câm điếc), cha mẹ nên cho trẻ đi khám thính giác ở chuyên khoa tai mũi họng để được điều trị sớm. Khi trẻ phải nghe được thì mới có khả năng nói.
  Bác sĩ Hồng Hạnh

Vì sao trẻ hay bị nhiễm giun kim?

Giun kim là bệnh do ký sinh trùng có tên khoa học là Enterobius vermicularis gây ra. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm đa số và rất dễ lây lan trong môi trường nhà trẻ, mẫu giáo.
Trẻ bị lây nhiễm giun như thế nào?
Giun kim rất nhỏ, có hình dạng như sợi chỉ, màu trắng dài khoảng 1cm. Giun trưởng thành cư trú chủ yếu ở ruột non, sau đó chúng xuống ruột già. Chúng thường ở manh tràng và các đoạn ruột lân cận, nằm bám lỏng lẻo vào niêm mạc ruột. Sau khi giun kim đực và giun kim cái giao phối, giun đực chết còn giun cái ra rìa hậu môn để đẻ. Một con giun cái đẻ khoảng 4.000 - 200.000 trứng, sau đẻ trứng, giun cái cũng chết luôn. Thời gian phát triển từ trứng thành giun cái trưởng thành và đẻ trứng là khoảng 3-4 tuần. Trứng có khả năng sống từ 2-3 tuần sau khi ra khỏi cơ thể người. Thời gian sống của giun từ 30-45 ngày.
 Vệ sinh thân thể và đồ chơi cho trẻ đề phòng lây nhiễm giun kim.
Trứng giun kim có thể tồn tại trên bề mặt của quần áo, chăn đệm, bồn cầu, đồ dùng trong nhà vệ sinh, thức ăn, cốc uống nước, bát, đũa, thìa, bàn ăn ở trường,... Khi trẻ ăn uống, đi vệ sinh, chơi đùa trứng giun bám vào tay, móng tay trẻ. Nếu trẻ mút tay hoặc bốc thức ăn những quả trứng giun vào miệng và xâm nhập vào cơ thể trẻ, cư trú trong ruột cho đến khi nở.
Khi những con giun cái trưởng thành trong ruột, chúng di chuyển xuống vùng hậu môn và đẻ trứng ở đó. Ngay sau khi trứng được đẻ ra thì ấu trùng của giun kim cũng được hình thành ngay trong trứng chỉ sau vài giờ (nếu gặp điều kiện thuận lợi). Ở ngay tại các nếp nhăn của hậu môn, ấu trùng giun kim sẽ phát triển nhanh chóng gây ngứa ngáy, khó chịu vùng hậu môn, nhất là vào buổi tối giờ đi ngủ vì nhiệt độ của giường chiếu, chăn màn ấm áp sẽ kích thích giun cái bò ra hậu môn để đẻ trứng. Khi bị ngứa, trẻ sẽ gãi và gây trầy xước da, khi đó trứng giun kim sẽ bám vào ngón tay, móng tay trẻ. Từ các ngón tay đã bị nhiễm trứng giun, trẻ có thể lây nhiễm trứng giun ngược trở lại hoặc lây nhiễm cho người khác khi ngậm mút ngón tay, chơi chung đồ chơi, dùng chung dụng cụ học tập hoặc khi cùng nhau ăn uống…
 Chu trình tái nhiễm giun giữa môi trường xung quanh. - Giun kim ở rìa hậu môn
Nhiễm giun kim có nguy hiểm?
Khi ở trong ruột, giun kim có thể gây những tổn thương kích thích niêm mạc ruột, làm rối loạn tiêu hóa hoặc gây tình trạng viêm ruột mạn tính làm trẻ chán ăn, buồn nôn, đau bụng âm ỉ, nếu trẻ bị nhiễm nhiều giun và kéo dài, tái đi tái lại sẽ đến suy dinh dưỡng, chậm lớn, xanh xao, gầy còm...; Gây rối loạn thần kinh (do giun kim đẻ trứng ở hậu môn gây ngứa làm cho trẻ mất ngủ, bực dọc, cáu kỉnh, hay quấy khóc về đêm); Nếu giun kim chui vào ruột thừa có thể gây viêm ruột thừa; Ngoài ra giun kim còn gây tác hại đối với cơ quan sinh dục nữ do chúng thường bò ra các nếp nhăn ở vùng hậu môn để đẻ trứng và có thể bò sang bộ phận sinh dục nữ như âm hộ, âm đạo làm cho các bé gái bị ngứa ngáy nên gãi làm bị xước, viêm tấy và nhiễm khuẩn, dẫn đến viêm âm hộ, âm đạo, rối loạn kinh nguyệt...
Điều trị và phòng tránh
Khi có biểu hiện bị nhiễm giun kim, trẻ cần được điều trị càng sớm càng tốt. Tốt nhất cha mẹ nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để bác sĩ khám, tư vấn chỉ định dùng thuốc diệt giun tùy theo độ tuổi. Để phòng ngừa và tránh tái nhiễm giun kim cho trẻ biện pháp đơn giản nhất là luôn giữ vệ sinh thân thể cho trẻ, thay quần áo, rửa tay cho trẻ bằng xà phòng diệt khuẩn sau khi đi vệ sinh cũng như trước khi ăn cơm, cắt ngắn móng tay cho trẻ, vệ sinh nhà cửa, thay, giặt chiếu, ga trải giường thường xuyên. Trong gia đình có nhiều người bị nhiễm giun kim nên được điều trị cùng lúc. Tẩy giun định kỳ cho trẻ và tất cả những người trong gia đình.   
 
Một nghiên cứu tình trạng nhiễm giun kim ở trẻ em trong các trường mầm non của Y dược TPHCM năm 2010 được thực hiện xét nghiệm tìm trứng giun kim trên 2.300 trẻ được chọn ngẫu nhiên thuộc các trường mầm non, kết quả có 5% trẻ mẫu giáo tại TPHCM bị nhiễm giun kim. Một kết quả nghiên cứu khác tại Hà Nội được công bố năm 2009 (nghiên cứu trên 900 trẻ tại các trường mầm non thuộc 3 xã, phường) cho thấy cứ 10 trẻ lại có 5 trẻ nhiễm giun kim. So với kết quả nghiên cứu tại Hà Nội, tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ học mẫu giáo ở TP HCM ít hơn nhưng nguyên nhân lây nhiễm cơ bản vẫn là do điều kiện vệ sinh kém, khi vui chơi, trẻ thường lê la, tì tay xuống nền nhà không được lau chùi sạch, nơi có chứa mầm bệnh (trứng giun kim), sau đó trẻ lại cho tay vào miệng, ngậm, mút ngón  tay không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, đó  chính là những yếu tố thuận lợi để trứng giun kim phát tán và lây lan.

Bác sĩ Thu Lan

Kiểm tra thính lực và gắn máy nghe cho trẻ em

Một đứa trẻ không bao giờ quá nhỏ để kiểm tra thính lực. Nếu khi trẻ cần mang máy nghe, hãy chọn loại máy có độ khuyếch đại thích hợp.
Gắn máy nghe cho trẻ em
Trẻ em mang máy nghe cần có độ khuyếch đại thích hợp để phát triển tối ưu các kỹ năng giao tiếp. Bước đầu của quy trình gắn máy nghe cho trẻ bằng test hành vi (behavioral audiogram). Kết quả này xác định ngưỡng nghe của bé là mức mà bé phát hiện âm thanh được tính bằng dB. Bạn cần biết ngưỡng nghe của bé và ngưỡng nghe cần có khi mang máy nghe. Sự khác nhau giữa 2 kết quả này ở mỗi tần số là mức khuyếch đại cần có. Máy nghe nhận và được chỉnh mức khuyếch đại phù hợp cho mỗi tần số. Vì vậy việc có được ngưỡng nghe chưa trợ thính và sau đó kiểm tra lại ngưỡng nghe có mang máy trợ thính là việc quan trọng. Quá trình này giúp cho bạn biết được mức khuyếch đại mà đứa trẻ cần.
 Nên đưa bé đi kiểm tra thính lực nếu bé có dấu hiệu nghe kém
Nếu đứa trẻ đã có thể nhắc lại các từ, tốt nhất nên sử dụng test phân biệt lời (word discrimination test) không mang máy nghe và có mang máy nghe. Trong khi kiểm tra bằng test này, trẻ nhắc lại một danh sách các từ, những từ nhắc đúng sẽ được tổng hợp tính phần trăm. Nếu điểm số khi mang máy nghe không cải thiện rõ rệt thì máy nghe này không phù hợp với trẻ. Tuy nhiên, một số trẻ quá nhỏ để làm test này thì test hành vi với có và không có mang máy nghe là test cơ bản để phục vụ việc gắn máy nghe cho trẻ nhỏ. Máy nghe sau tai thường được khuyên sử dụng cho trẻ em vì nó kín đáo và chắc chắn. Máy nghe sau tai gắn với tai của trẻ và nối với tai trẻ bằng núm tai. Thực tế hầu hết trẻ em sử dụng máy nghe sau tai vì nó không phụ thuộc vào kích thước ống tai của trẻ. Nhiều cha mẹ cũng thích máy nghe sau tai vì nó dễ theo dõi và kiểm soát.
Mặc dầu máy nghe sau tai tương đối nhỏ, chúng có vẻ lớn so với đầu của trẻ nhỏ. Nhiều khi tai của trẻ không đủ lớn để giữ máy nghe sau tai. Tuy nhiên, gắn thêm móc tai và núm tai cũng đủ để giữ máy nghe sau tai nằm đúng vị trí. Một ống được làm thêm để giữ máy nghe sau tai. Ống này được gắn với máy nghe sau tai và giữ nó nằm trên đầu trẻ.
Trẻ em mang máy nghe cần được kiểm tra ngưỡng nghe không mang máy và mang máy mỗi năm để biết sức nghe của trẻ có thay đổi không và máy nghe còn phù hợp với trẻ không.
Việc cho con bạn chịu mang máy nghe có thể gặp khó khăn. Một số trẻ em khi mang máy nghe không phàn nàn gì thậm chí còn rất sung sướng khi được mang nó lần đầu, trong khi một số trẻ khác không chịu và luôn luôn cố gắng tháo máy ra. Hãy nhớ bạn đang đặt một vật vào tai con bạn mà trước đây chưa từng có. Trẻ càng lớn càng dễ chống đối việc bị kéo tai và cho vật gì vào tai. Một số chỉ dẫn sau đây có thể giúp con bạn chịu mang máy nghe và quan trọng hơn nữa là giúp chúng nhận ra những ích lợi từ việc mang máy nghe:
- Hãy làm ấm núm tai trước khi đưa nó vào tai trẻ. Bằng cách này sẽ ít gây sốc cho con bạn. Núm tai ấm sẽ dễ chịu hơn, dễ uốn hơn và dễ đưa vào ống tai hơn.
- Hãy tăng từ từ thời gian mang máy nghe cho bé. Bắt đầu bằng việc cho trẻ mang máy nghe vài phút nhưng nhiều lần trong ngày. Sau đó thời gian mang máy nghe mỗi lần ngày càng kéo dài hơn.
- Hãy thu hút trẻ bằng đồ vật gì đó khi bạn mang máy nghe cho trẻ - ví dụ đồ chơi mà trẻ ưa thích. Có thể bạn sẽ mua đồ chơi trẻ đặc biệt thích và sử dụng mỗi khi gắn máy. Với cách này đứa trẻ sẽ cảm thấy dễ chịu và mong chờ được gắn máy.
- Không bao giờ được bắt trẻ phải mang máy. Quan trọng là phải cố gắng làm cho trẻ thích mang máy nghe và nhận ra ích lợi của việc mang máy.
- Nếu có thể hãy để bé nhìn thấy người lớn và trẻ em đã mang máy nghe. Điều làm cho trẻ cảm thấy không phải chỉ có mình mình mang máy nghe.
- Hãy làm cho máy nghe đẹp hơn thu hút hơn bằng màu sắc hoặc dấu ấn riêng. Bạn có thể có những phần thưởng nếu bé mang máy nghe lâu hơn.
- Cố gắng làm cho việc mang máy nghe như một phần việc của mặc quần áo hàng ngày. Buổi sáng mang máy nghe khi mặc quần áo và lấy máy nghe ra vào buổi tối khi thay quần áo đi ngủ.
- Hãy làm điều gì mà bạn chắc con bạn thấy dễ chịu. Ví dụ bạn có thể mua các dải băng gắn quanh máy và tai của trẻ để bảo vệ máy nghe.
Kiểm tra thính lực cho trẻ em
Một đứa trẻ không bao giờ quá nhỏ để kiểm tra thính lực.
Trẻ sơ sinh thường được tầm soát để phát hiện điếc trước khi rời khỏi bệnh viện, nhưng nếu con bạn có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy có vấn đề về nghe hãy cho bé được kiểm tra thính lực kỹ càng. Có nhiều phương pháp để kiểm tra thính lực cho trẻ nhỏ. Sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào chức năng nhận thức và tuổi của trẻ.
Trẻ nhỏ có 2 cách để kiểm tra thính lực: test hành vi và test sinh lý điện. Test đánh giá qua quan sát hành vi (Behavioral Observation Assesement = BOA) được thực hiện bởi một nhà thính học người được đào tạo đặc biệt để phát hiện những đáp ứng cơ thể của trẻ với âm thanh – như là ngừng hoạt động, chuyển động cơ thể, chớp mắt, mở mắt hoặc thay đổi tốc độ bú.
Đo điện thính giác thân não (ABR) là một test sinh lý điện được sử dụng thêm để đánh giá thính giác cũng như nghiệm pháp đo âm ốc tai (OAE). Hai nghiệm pháp này thường được thực hiện trong khi bé ngủ. Khi trẻ em lớn hơn, khả năng đáp ứng với âm thanh phát triển. Trẻ nghe bình thường 6 - 7 tháng tuổi thường quay về hướng âm thanh được phát ra. Vào độ tuổi này trẻ em được kiểm tra sử dụng chụp tai hoặc trong phòng cách âm sử dụng loa. Âm thanh sử dụng là những âm có âm sắc từ trầm đến cao nằm trong dãy tần tiếng nói bình thường. Quay về nguồn phát âm thanh được làm cho kích thích hơn bằng các đồ chơi phát sáng. Phương pháp này được gọi là phương pháp đo thính lực tăng cường nhờ nhìn (Visual Reinforcement Audiometry = VAR) và là phương pháp chính xác điển hình để xác định mức nghe của trẻ.
Nếu trẻ em 2 tuổi rưỡi đến 3 tuổi có thể dùng phương pháp vừa đo vừa chơi (play audiometry) để kiểm tra. Ở phương pháp này trẻ em được mang chụp tai và chơi các loại trò chơi xếp theo màu, theo hình… khi nghe thấy âm thanh thử. Trẻ lớn và người lớn sẽ kiểm tra bằng phương pháp đo thính lực thông thường (standard audiometry). Phương pháp này yêu cầu bệnh nhân giơ tay hay bấm nút báo hiệu khi nghe âm thử.
Dấu hiệu nghe kém ở trẻ em
Nếu bạn không biết con bạn có vấn đề về nghe thì không thể giúp gì cho bé. Có 2 loại điếc cơ bản ở trẻ em: điếc bẩm sinh và điếc mắc phải. Điếc bẩm sinh là điếc ngay khi mới sinh ra; trong khi điếc mắc phải là bị điếc sau khi đã sinh ra. Cả 2 loại điếc này đều có thể có 3 dạng điếc: điếc thần kinh, điếc dẫn truyền, điếc hỗn hợp.
Các dấu hiệu và triệu chứng nghe kém của trẻ này khác trẻ kia. Liệt kê dưới đây là những dấu hiệu thông thường giúp cho bạn biết con mình có nghe kém hay không:
- Trẻ 3 - 4 tháng tuổi vẫn không phản ứng với âm thanh.
- Con của bạn chú ý đến những rung động hơn là tiếng động.
- Con của bạn một tuổi mà vẫn không nói được những từ ngắn như “ba ba”, “ma ma”.
Con của bạn có vẻ như nghe được vài âm thanh, còn những âm thanh khác không nghe.
- Con của bạn không đáp ứng khi bạn nói.
- Con của bạn không lặp lại bất kỳ âm, từ nào bạn nói ra.
- Con của bạn không dùng giọng của mình để thu hút sự chú ý của người khác.
- Con của bạn không đáp ứng với âm nhạc, chuyện kể hoặc thơ ca.
- Con của bạn chưa bao giờ nói ghép 2 từ hoặc nhiều hơn.
Thậm chí con bạn không có dấu hiệu bị khiếm thính khi mới sinh ra, bé cũng có thể bị nghe kém tạm thời hay vĩnh viễn trong thời gian lớn lên. Những dấu hiệu trẻ lớn hơn bị nghe kém bao gồm :
- Trẻ nghe TV, đài ở cường độ lớn hơn bình thường.
- Trẻ không quay lại khi bạn gọi tên hay trả lời khi bạn hỏi điều gì đó.
- Trẻ có vấn đề về nói.
- Trẻ có vấn đề về học.
- Trẻ phàn nàn bị đau tai.
- Trẻ dường như nói chuyện khác với trẻ cùng độ tuổi.
Hãy nhớ nghe kém ở trẻ thường tạm thời do có ráy tai hay bị viêm tai. Nhiều trẻ nghe kém tạm thời có thể điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật nhỏ. Một vài trẻ bị điếc thần kinh giác quan cũng được gọi là điếc thần kinh bị nghe kém vĩnh viễn. Hầu hết các trẻ này có sức nghe còn lại có thể sử dụng với máy nghe và trẻ nhỏ khoảng 3 tháng tuổi có thể gắn máy nghe. Nếu con của bạn có các dấu hiệu nghe kém thì nên đưa con bạn đi kiểm tra thính lực.
BS.CKII. NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
(Theo www.hearingaid101.com)

Các bệnh thường gặp khi trẻ đến trường

Khi trẻ bước vào năm học mới cũng là giai đoạn thời tiết chuyển mùa, do đó, đây là thời điểm trẻ rất dễ bị nhiễm bệnh nếu không được chuẩn bị tốt về mặt thể lực. Các bậc cha mẹ cần có những hiểu biết cần thiết để giúp con em mình có được sức khỏe tốt nhất bước vào năm học mới. Trong đó, tiêm chủng phòng ngừa những loại bệnh đã có vaccin là việc làm thiết thực.
Bệnh tay - chân - miệng
Nên có biện pháp chủ động phòng tránh bệnh để trẻ không phải nghỉ học ngay đầu năm học mới. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là các tổn thương ở da và niêm mạc. Sau thời gian ủ bệnh từ 3-6 ngày, trẻ mắc bệnh tay chân miệng sẽ có các biểu hiện: Sốt (có thể sốt nhẹ thoáng qua, cũng có thể sốt cao 39-400C), đau họng, chảy nước bọt liên tục, biếng ăn hoặc bỏ ăn, khó ngủ, quấy khóc, run chi, giật mình nhiều một cách bất thường; Loét miệng: Đó là các bóng nước có đường kính 2-3mm, vỡ rất nhanh, tạo thành các vết loét khiến trẻ bị tăng tiết nước bọt và thấy đau khi ăn, vì thế trẻ sẽ biếng ăn, quấy khóc. Ở lòng bàn tay và lòng bàn chân xuất hiện các bóng nước từ 2-10mm, màu xám, hình bầu dục có thể lồi lên trên da, sờ có cảm giác cộm hay ẩn dưới da, thường ấn không đau. Bóng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban. Ngoài các dấu hiệu điển hình trên, bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẽ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần. Phòng bệnh tốt nhất là vệ sinh tay (cả trẻ và người chăm sóc trẻ) sạch sẽ bằng xà phòng và vệ sinh đồ chơi đúng cách.
 Khám phát hiện bệnh tay - chân - miệng ở trẻ.
Cảm cúm và sốt
Các bệnh do virut gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là: hạ sốt, chống co giật, bù nước và điện giải. Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp. Dinh dưỡng: Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng. Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín. Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sau: Trẻ sốt cao trên 38,50C, đặc biệt là trên 390C mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng; lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, tăng dần; buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.       
Mỗi khi trẻ mệt hoặc sốt, chúng ta không nên nghĩ ngay là trẻ bị cúm mà cần tìm đến bác sĩ để khám vì có nhiều bệnh khác nhau cùng có những triệu chứng ban đầu giống như cúm: ớn lạnh, run, thân nhiệt tăng, mặt đỏ, họng khô, đau lưng và chân tay. Hiện tượng ho càng ngày càng nhiều không hẳn là triệu chứng của cúm. Đa số những trẻ có trạng thái sốt, ho thường kèm theo tiêu chảy và nôn, cứ 24 giờ hay 48 giờ là lại sốt cao một lần.
Khi đã xác định là trẻ bị cúm, cần cho trẻ nằm nghỉ tại giường trong thời gian một vài ngày. Nên cho cháu uống nhiều nước trái cây, ăn cháo, sữa. Trong thời gian có dịch bệnh, tránh để trẻ bị lạnh, mệt và tập trung nơi đông người. Nếu bà mẹ bị cúm, nên để người khác săn sóc con mình. Khi cần cho con nhỏ bú, nên đeo khẩu trang. Đối với trẻ, bệnh cúm có thể gây ra nhiều biến chứng từ viêm tai, mũi, họng tới viêm phế quản, viêm phổi, ho, hen tới độ khó thở. Việc tiêm chủng chống bệnh cúm cho các cháu hiện nay chưa thực hiện được rộng khắp nhưng rất cần đối với các cháu có thể trạng yếu và hay có bệnh tai-mũi-họng.
Trong điều kiện bình thường cũng có những virut ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa... Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Các loại virut thường gây sốt gồm myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản... Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu sốt virut, vì vậy cách xử lý tốt nhất là hạ sốt, chườm mát, bù nước và điện giải. Nếu không có bội nhiễm vi khuẩn thì không dùng kháng sinh. Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virut là sốt cao, thuật ngữ y học gọi là sốt virut. Đặc điểm của sốt do nhiễm virut: Sốt cao, thường từ 38-390C, thậm chí 40-410C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol... Khi hạ sốt, trẻ lại tỉnh táo, chơi bình thường. Đau mình mẩy: ở trẻ lớn thì đau cơ bắp nên trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc. Đau đầu: Một số trẻ lớn hơn có thể kêu đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã. Viêm long đường hô hấp: Các biểu hiện của viêm long đường hô hấp như ho, chảy nước mũi, hắt hơi, họng đỏ... Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virut đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là phân lỏng, không có máu, chất nhầy. Viêm hạch: Các hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau có thể nhìn hoặc sờ thấy. Phát ban: Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt. Viêm kết mạc: Kết mạc có thể đỏ, có dử mắt, chảy nước mắt. Nôn: Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn. Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3-5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại khỏe mạnh.          

BS. Hoàng Minh Việt

Cần can thiệp sớm

Trước đây, điếc nặng hay điếc sâu bẩm sinh gây hậu quả nặng nề về lời nói nên có tên gọi là điếc câm. Nhưng hiện nay, để người bị điếc không cảm thấy bị thiếu tôn trọng, Hiệp hội Người điếc thế giới thống nhất dùng thuật ngữ điếc và khó nghe. Tuy nhiên, để trẻ điếc có thể hòa nhập với cộng đồng trong học tập và lao động thì vấn đề can thiệp sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Sự phát triển thính giác
Ngay từ khi sinh ra, bộ máy thính giác đã hoàn thiện, hệ thống thần kinh thính giác ngoại biên hoạt động nhưng chỉ đến 4 tuổi, sự hình thành các bao sợi dây thần kinh mới hoàn chỉnh. Sự thành thục của hệ thần kinh trung ương tuỳ thuộc vào hoạt động bình thường của cơ quan thần kinh ngoại biên. Trẻ sơ sinh chỉ phản ứng với tiếng ồn ở khoảng 60- 100dB, đến khi trẻ 4-6 tháng ngưỡng này chỉ khoảng 10-20dB. Lúc đầu, trẻ phản ứng với kích thích âm theo phản xạ như: co cơ lan tỏa hay khu trú, nháy mi, thay đổi nhịp thở hay quay đầu chậm hướng về nguồn âm. Trẻ sơ sinh hay những tuần đầu của trẻ nhũ nhi có thể không có bất kỳ phản ứng nào với kích thích âm mặc dù bộ máy thính giác bình thường. Chỉ khi trẻ khoảng 4-5 tháng tuổi, phân biệt thế giới âm mới dần dần xuất hiện. Trẻ hướng về nguồn tiếng ồn, rồi nhận biết được một số tiếng ồn như tiếng mẹ, tiếng lắc bình sữa... Trên lâm sàng, phương pháp đo thính lực ứng xử khó xác định ở trẻ nhỏ, vì vậy trước đây, những trường hợp trẻ 5-6 tuổi mới chẩn đoán bị điếc sâu không phải là hiếm. Nhưng từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhờ tiến bộ của các thăm dò thính giác khách quan như đo âm ốc tai (OtoAcoustic Emission - OAE), đo điện thế kích thích thân não (Auditory Brain stem Responses - ABR) nên trẻ được phát hiện điếc từ rất sớm. Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện đo âm ốc tai OAE sàng lọc cho tất cả trẻ trong vòng 3 ngày sau sinh để phát hiện sớm.
 Sóng âm dẫn truyền vào tai tạo phản xạ nghe.
Sự hình thành ngôn ngữ
Dù nghe bình thường hay điếc hoàn toàn, khoảng 3 hay 4 tháng tuổi, trẻ sẽ tự phát ra các âm, đó là lời nói bi bô (babil). Trẻ nghe bình thường sẽ tình cờ phát ra nhiều âm mà dần dần nó tự hiệu chỉnh dựa trên tiếng nói của người xung quanh. Nhờ cố gắng bắt chước, thử và mò mẫm, trẻ dần dần sẽ nhắc lại được những từ đơn giản mà nó nghe thấy. Chính vì vậy, tiếng nói được tạo ra dựa trên một vòng tròn thực sự về thính thanh học. Trẻ bị điếc nặng không nghe được những âm mà nó phát ra và không hoà vào môi trường âm thanh xung quanh. Nên vài tháng sau, lời nói bi bô sẽ ít dần, rồi biến mất. Ngoài ra, điếc nặng còn gây hậu quả lớn trong lĩnh vực cảm xúc tâm lý của trẻ. Do không nghe được và không nói được, trẻ điếc sâu sẽ bị cô lập với giới bên ngoài, trẻ không thể hiểu suy nghĩ của người khác cũng như không thể thể hiện những mong muốn của chúng. Vì vậy dẫn đến các biểu hiện: rối loạn tâm lý, thiếu các quan hệ xã hội và nghèo nàn hiểu biết về thế giới bên ngoài. Tuỳ theo mỗi trẻ, phản ứng diễn ra khác nhau: gây gổ, phẫn nộ, vô cảm hay tính nết thất thường. Tình trạng này đôi khi trở nên trầm trọng tuỳ thuộc vào cách đối xử của gia đình: bỏ rơi hay quá bao bọc trẻ.
Đeo máy trợ thính sớm trước 6 tháng tuổi, thậm chí vào khoảng tháng thứ 3 cho phép trẻ sử dụng phần thính giác còn lại, đa số các trường hợp là các tần số trầm còn tồn tại. Tuy nhiên, máy trợ thính không cho phép trẻ nhận biết được thế giới âm thanh mà người bình thường nhận thấy mà chỉ cho một số thông tin thính giác. Nếu đeo máy muộn sau 3-4 tuổi, trẻ đã quen với thế giới mà não không có các thông tin thính giác, vì vậy, hiệu quả đeo máy sẽ kém hơn rất nhiều.
Sự cần thiết phải can thiệp sớm
Khi trẻ điếc đã hoàn toàn không nói trong một thời gian dài thì việc phát âm trở lại sau này sẽ trở nên khó khăn. Các công trình nghiên cứu gần đây khẳng định: phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ điếc giúp trẻ hoà nhập tốt hơn với thế giới bên ngoài do tính tự tạo của não phát triển nhất ở giai đoạn này. Trẻ nhỏ  phát hiện điếc sâu hay điếc nặng đều phải đeo máy trợ thính ngày nay là cấy ốc tai điện tử.
Đeo máy này chỉ có hiệu quả trong điều kiện giáo dục sớm với sự phối hợp của nhiều chuyên khoa (chỉnh giọng, tâm lý học, sư phạm và ngữ âm) nhằm giúp trẻ duy trì sự hình thành âm tự phát trong những tháng đầu tiên và phát triển các âm đó; dẫn dắt trẻ nhận thức được thế giới âm xung quanh; khai thác các giác quan khác như nhìn, sờ...; phát triển nhu cầu giao tiếp của trẻ; sử dụng đọc hình miệng và giao tiếp bằng cử chỉ nếu cần. Giáo dục sớm thích ứng tuỳ từng trẻ và giáo viên cần hướng dẫn cha mẹ, bởi gia đình đóng vai trò đáng kể trong việc phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ của trẻ điếc, cũng như giúp trẻ nhận biết được thế giới âm thanh và ngôn ngữ. Chìa khoá thành công của can thiệp sớm cho trẻ điếc chính là sớm tạo nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là khả năng bắt chước của trẻ.
TS.BS. Đoàn Thị Hồng Hoa

Ðái tháo đường trẻ em, những điều nên biết

Đái tháo đường trẻ em (ĐTĐTE) là một bệnh nội tiết không phổ biến như người trưởng thành. Khoảng 90% ĐTĐTE là týp 1, số còn lại là ĐTĐ týp 2, thường gặp ở trẻ bị thừa cân và béo phì hoặc trong hội chứng gây béo khác như HC Prader-Willi, Laurence –Moonbiedl...
Nguyên nhân ĐTĐ ở trẻ em thường do yếu tố di truyền và quá trình viêm tự miễn phá huỷ cấu trúc tế bào bêta tuỵ làm giảm sản xuất insulin, gây tăng đường huyết (ĐH) mạn tính. Vì vậy, liệu pháp điều trị thay thế insulin là bắt buộc và ngay sau khi xác định chẩn đoán ĐTĐ càng sớm càng tốt. ĐTĐTE không được uống các loại thuốc Đông y hoặc các bài thuốc cổ truyền của người lớn, nếu không điều trị bằng insulin, trẻ sẽ bị biến chứng mù loà, suy thận hoặc nhiễm toan ceton dẫn đến tử vong.
 Tế bào bêta tuyến tụy tiết ra insulin điều hòa đường huyết.
Làm thế nào để biết trẻ mắc ĐTĐ?
Để khẳng định trẻ có mắc ĐTĐ hay không, cần phải có các xét nghiệm và chẩn đoán chính xác để tránh việc điều trị sai. Việc chẩn đoán gồm 4 giai đoạn:
Giai đoạn sớm chưa có biểu hiện lâm sàng: Chính vì chưa có biểu hiện lâm sàng nên bệnh chỉ được phát hiện khi khám và làm các xét nghiệm để chẩn đoán và dự phòng bệnh trong thời gian tới.
Giai đoạn bị bệnh đái tháo đường: Đây là giai đoạn đã có những triệu chứng với hai đặc điểm lâm sàng là:
Khởi phát đột ngột và cấp tính: đái nhiều, uống nhiều, mất nước, rối loạn nhịp thở Kussmaul, nhiễm toan ceton và hôn mê.
Khởi phát từ từ: đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và gầy sút cân trong vài tuần hoặc vài tháng. Kèm theo các triệu chứng khác như: đái dầm dai dẳng, đau bụng, nôn, nhiễm trùng sinh dục và da tái diễn, mệt mỏi, giảm tập trung khi học.
Cần đưa trẻ đi làm xét nghiệm glucose máu & niệu để phát hiện bệnh ĐTĐTE khi có đái nhiều, uống nhiều và gầy sút cân.
Giai đoạn thuyên giảm một phần “tuần trăng mật”: Bệnh nhân không cần dùng insulin ngoại sinh vì glucose máu, HbA1C bình thường, nhu cầu insulin thấp < 0.5 u/kg/ngày. Khoảng 30-60% trẻ em có giai đoạn thuyên giảm bệnh sau 1-6 tháng bắt đầu điều trị insulin. Do đó, với bệnh nhân mới chẩn đoán ĐTĐ, phải giám sát chặt chẽ glucose máu trong 6 tháng đầu điều trị insulin.
Giai đoạn ĐTĐ vĩnh viễn, toàn bộ tế bào bêta bị phá huỷ, thiếu insulin toàn bộ: Đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, giảm cân, mệt mỏi, thị lực giảm, mất nước và có thể đái đường nhiễm toan ceton. Đặc điểm: ít gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi và thường bị ĐTĐ khi dậy thì 10-14 tuổi.
Điều trị như thế nào?
Mục đích cần đạt được khi điều trị insulin ở trẻ em là đảm bảo ĐH ổn định trong giới hạn cho phép từ 4-7 mmol/l vào ban ngày và 4-9 mmol/l vào ban đêm. HbA1C < 7 %; trẻ tăng cân đi học được; phát triển thể lực và sinh dục bình thường; hạn chế những biến chứng xảy ra trong quá trình điều trị. Do đó, cần phải có kế hoạch khám và điều trị rất chặt chẽ cho trẻ.
Chế độ ăn cho trẻ mắc ĐTĐ
Chế độ ăn của trẻ bị ĐTĐ không kiểm soát chặt chẽ như người lớn, vì cơ thể trẻ đang phát triển cần ăn đủ chất, đảm bảo phát triển, tăng trưởng trong giai đoạn dậy thì và vị thành niên, nhưng phải kiểm soát glucose máu ổn định.

Dự án Phòng chống bệnh đái tháo đường

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons