Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Phòng ngừa bệnh lao ở trẻ em

Bệnh lao gây ra bởi vi trùng KOCH (BK), do sự lây nhiễm trực tiếp. Trẻ em - nhất là các cháu sơ sinh - dễ bị lây bệnh nên cần phải tiêm phòng cho các cháu bằng vaccin BCG (vi khuẩn mang tên người tìm ra chúng là Calmette và Guérin). Các cháu có thể bị lây từ một người không biết mình có bệnh hoặc một người có bệnh nhưng lại tưởng là mình đã khỏi rồi.
Giai đoạn bị lây bệnh đầu tiên của một cháu bé chưa tiêm phòng BK gọi là sơ nhiễm có thể không có triệu chứng gì nổi bật, phải thử nghiệm mới biết được (căn cứ vào kết quả thử nghiệm âm tính hay dương tính). Tuy vậy, cũng có những trẻ có những biểu hiện như: sốt, tình trạng sức khỏe toàn thân suy sụp, xuống cân, gầy ốm. Kết quả chụp Xquang cho thấy có những điểm bất thường ở phổi như sự xuất hiện các hạch ở quanh khí quản và ở phổi. Đối với các cháu mới sinh, bệnh lao màng não là một bệnh cực kỳ nguy hiểm.
Khi thấy một đứa trẻ bị sơ nhiễm lao, người ta thường để ý tìm xem người nào đã lây bệnh sang cháu và thường phát hiện ra ngay trong gia đình hoặc người thường tiếp xúc với cháu.
Việc chữa trị cho một cháu bé bị sơ nhiễm lao rất đơn giản: cho cháu uống thuốc kháng sinh loại chống lao trong thời gian từ 6 - 9 tháng.
 Tiêm vaccin phòng bệnh lao cho trẻ sơ sinh.
Những phản ứng thử với thuốc thử lao:
Những phản ứng của cơ thể cháu bé đối với thuốc thử lao cho thấy: cơ thể cháu đã tiếp xúc với trùng BK hoặc cháu đã được tiêm vaccin BCG phòng lao rồi. Người ta tiêm vào dưới da các cháu một lượng nhỏ các vi trùng lao (BK) đã bị chết, rồi quan sát trạng thái da ở chỗ tiêm.
Nếu cơ thể không bị nhiễm BK và cháu chưa tiêm phòng vaccin BCG thì không có phản ứng gì ở da: kết quả âm tính.
Nếu cơ thể đã tiếp xúc với BK hoặc đã chích ngừa vaccin BCG thì da có phản ứng: kết quả dương tính.
Có nhiều cách thử nghiệm: làm trầy một diện tích rất nhỏ da của cháu bé rồi nhỏ một giọt thuốc thử lao lên vết trầy; đắp một lớp pommát (thuốc mỡ) thử lao lên da; dùng kim chích tiêm vào dưới da một lượng nhỏ thuốc thử.
Việc nhận định kết quả của việc thử nghiệm không phải ai cũng làm được, vì phải có chuyên môn và kinh nghiệm. Bởi vậy các bà mẹ cần đưa cháu tới bác sĩ hoặc nơi có chuyên môn để bác sĩ hoặc các chuyên viên làm việc. Cần phải đưa cháu tới đúng hẹn, thường là 2 - 4 ngày sau khi thử. Kết quả dương tính thường có các dấu hiệu như: chỗ chích thử có một vùng đỏ bao quanh, dưới da có một cục sờ thấy cứng hoặc quanh chỗ chích có nhiều điểm nhỏ hơi phồng, màu đỏ.
Có thể có nhiều dấu hiệu tương tự làm người ta lầm là kết quả dương tính. Bởi vậy, muốn chắc chắn, người ta thường tiến hành nhiều cách thử nghiệm, từng đợt cách nhau một khoảng thời gian.
Kết quả dương tính cho biết đứa trẻ đã tiếp xúc với BK (nếu trước đó, cháu không được tiêm phòng vaccin BCG).
Nếu kết quả dương tính rất rõ rệt thì cháu vừa bị nhiễm BK trong thời gian gần đây. Nếu kết quả dương tính không rõ rệt thì khó xác định được thời gian nhiễm bệnh. Bởi vậy, người ta thường thử ít nhất mỗi năm một lần cho các cháu để dự đoán sự tiến triển của bệnh bằng cách so sánh các kết quả của mỗi lần thử với nhau.
3 tháng sau mới kiểm tra kết quả và cháu bé phải có kết quả dương tính. Nếu kết quả âm tính thì việc tiêm ngừa vừa rồi chưa đạt yêu cầu, phải tiêm ngừa lại. Việc chích ngừa vaccin BCG cần thực hiện càng sớm càng tốt. Vì vậy, người ta thường chích cho các cháu ngay khi mới sinh.
Tất cả mọi trẻ em đều có thể chích ngừa bệnh lao bằng vaccin BCG, trừ trường hợp đang bị bệnh nào đó hoặc vừa tiêm ngừa một bệnh khác thì phải tạm hoãn lại một thời gian.
Việc chích ngừa vaccin BCG không làm cho cháu bé bị sốt hoặc có phản ứng gì khác ngoại trừ hiện tượng sau vài tuần, chỗ chích có một cái vảy nhỏ, ở dưới vảy có một cục cứng, chung quanh vảy có một vùng đỏ. Nếu chích dưới da ở cánh tay, có thể nổi hạch ở nách. Có trường hợp hạch sưng to, có mủ nhưng thường sẽ khỏi nhanh.
Việc chích vaccin BCG phòng lao đã tỏ ra rất hữu hiệu, kể cả đối với các dạng lao nguy hiểm như lao màng não. Tuy vậy, việc chích phòng phải thực hiện cẩn thận và có quá trình theo dõi về sau.
ĐÐúng là sau khi đã chích ngừa, nếu kết quả dương tính không rõ rệt chứng tỏ khả năng miễn nhiễm yếu, cần phải chích lại. Thật ra, khả năng miễn nhiễm này cũng yếu đi theo thời gian. Bởi vậy, thường các cháu phải thử lao mỗi năm một lần để thấy nếu cần thì chích ngừa lại.
Thời gian và những nhận xét, theo dõi của mỗi lần chích ngừa cần phải được ghi đầy đủ vào sổ y bạ của các cháu.

Chương trình phòng chống lao Quốc gia

Viêm hạch ở trẻ

Con trai tôi 6 tuổi, mấy tuần nay cháu bị sưng đau ở cổ, sau tai trái, đi khám bác sĩ bảo bị viêm hạch, uống thuốc thấy đỡ. Cách đây vài ngày cháu bị lại nhưng chỗ sưng xích xuống phía dưới hàm trái (giống như quai bị). Bệnh có nguy hiểm gì cho cháu hiện tại và về sau?
Triệu Thị Hoa  (Cao Bằng)
Hạch bạch huyết như “những người lính gác” được phân bố khắp nơi trong cơ thể người. Có 500 - 600 hạch bạch huyết hiện diện ở cổ, nách, thượng đòn, dọc các tĩnh mạch đùi, bẹn, hạch mạc treo ruột, hạch trung thất (nằm trong vùng ngực), hạch trong ổ bụng...
 Khám bệnh cho trẻ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang.Ảnh: K.Hoàng
Hạch bạch huyết có nhiệm vụ bảo vệ, tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, có nhiệm vụ lọc các tác nhân gây bệnh vi trùng, vi sinh vật, virut.
Hạch bạch huyết bình thường có kích thước nhỏ từ vài milimét đến khoảng 2cm, thường không đau, không nhạy cảm khi sờ.
Trong trường hợp cơ thể bị viêm, nhiễm trùng, “những người lính gác” sẽ làm nhiệm vụ chống đỡ, kháng cự với tác nhân gây bệnh và vì thế các hạch bạch huyết vùng lân cận sẽ phản ứng to, đau.
Viêm hạch có thể do siêu vi trùng gây ra, cũng có thể do vi trùng lao. Một số trường hợp trẻ có viêm amiđan, viêm tai, viêm xoang, các hạch vùng quanh tai, dưới cằm và quanh cổ cũng to ra và hơi đau, nhưng sau khi điều trị các bệnh lý trên, hạch vùng lân cận sẽ nhỏ lại, hết đau.
Khi khám bệnh, bác sĩ sẽ hướng đến trường hợp nhiễm siêu vi khi trẻ có ho, sốt, sổ mũi, hắt hơi, trẻ có thể có nổi hạch quanh vùng cổ, dưới hàm, những hạch này thường không đau, kích thước nhỏ, di động.
Trường hợp viêm hạch nhiễm trùng, trẻ sẽ có sốt cao, hạch sưng to, đỏ, nóng đau, có thể bị áp xe do có mủ bên trong hạch hay bị rò mủ ra ngoài. Trẻ cần được trị liệu với kháng sinh thích hợp, khoảng 7-10 ngày sẽ khỏi bệnh và không để lại di chứng gì. Nếu có tụ mủ, trẻ sẽ được rạch và dẫn lưu mủ.
Bệnh không nguy hiểm nếu trẻ được khám và chữa trị kịp thời. Ngược lại, nếu trẻ không được điều trị, vi trùng sẽ lan vào máu gây nhiễm trùng toàn thân, nguy hiểm cho tính mạng. Do vậy, chị nên đưa con đi khám chuyên khoa để được bác sĩ chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Bác sĩ Đỗ Ngọc Đức

Cần làm gì khi trẻ em sốt

Sốt là tình trạng tăng nhiệt độ cơ thể. Nhiệt độ cơ thể bình thường là 37oC. Gọi là sốt khi nhiệt độ đo ở hậu môn cao hơn 38oC. Nhiệt độ đo ở các vị trí khác trên cơ thể thường thấp hơn nhiệt độ ở hậu môn. Vì vậy, nếu nhiệt độ ở nách đo được từ 37,5oC trở lên là có sốt. Sốt có các mức độ: từ 37,5 – 37,9oC gọi là sốt nhẹ, từ 38-38,5cC là sốt vừa, trên 38,5oC là sốt cao (phân độ này có thể thay đổi nhưng không đáng kể).
Sốt có nguy hiểm không?
Sốt là phản ứng tự vệ của cơ thể, chống lại các tác nhân gây nhiễm vì làm cho virus hay vi trùng không có điều kiện sinh sản và chết, nghĩa là góp phần tiêu diệt nguồn bệnh khiến nhanh hết bệnh. Do đó, sốt là một dấu hiệu chứng tỏ cơ thể còn khả năng chống lại tác nhân gây bệnh. Trẻ suy dinh dưỡng hay suy giảm miễn dịch nặng có thể không sốt dù có bệnh. Tuy nhiên, nếu sốt cao quá thì lại có tác động ngược, có hại cho cơ thể, đặc biệt ở trẻ nhỏ có khả năng điều nhiệt kém. Nhiệt độ tăng cao có thể làm trẻ co giật, nặng hơn là làm cho các cơ quan trong cơ thể bị rối loạn hoạt động và có thể dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em đều bị co giật khi sốt cao mà chỉ xảy ra ở những trẻ có não nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ cơ thể. Các trường hợp này thường có tính gia đình, nghĩa là nếu có người thân đã bị sốt cao co giật thì trẻ cũng dễ bị như thế.
 Theo dõi nhiệt độ cho trẻ.
Sốt không phải là bệnh, mà chỉ là một triệu chứng của nhiều loại bệnh khác nhau. Có 2 nguyên nhân chính gây ra sốt:
Các bệnh nhiễm: sốt rét, thương hàn, sốt xuất huyết, tay chân miệng… Phần lớn các trường hợp sốt ở trẻ em là do bệnh nhiễm.
Các bệnh không phải bệnh nhiễm: bệnh tự miễn, say nắng, thiếu nước, tác dụng phụ của thuốc, ung thư, rối loạn trung tâm điều nhiệt của cơ thể…
Làm gì khi trẻ bị sốt?
Hạ sốt
- Lau trẻ với nước ấm có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của trẻ 2oC, mỗi 30 phút kiểm tra lại nhiệt độ cho đến khi nhiệt độ của trẻ = 38oC thì ngưng lau, cho trẻ mặc quần áo thoáng mát, không ủ ấm trẻ.
- Dùng thuốc hạ sốt. Thuốc hạ sốt an toàn là paracetamol với nguyên tắc sử dụng như sau: không cho hơn 6 lần/một ngày, không cho hơn 60mg/kg cân nặng một ngày, không cho hơn 15mg/kg cân nặng/mỗi lần, khoảng cách giữa 2 lần cho thuốc ít nhất là 4 giờ.
Nếu sử dụng thuốc bằng cả đường uống và đặt hậu môn, nếu sử dụng nhiều thuốc có tên khác nhau nhưng đều là paracetamol thì tổng cộng 2 đường dùng với các thuốc nêu trên cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên. Nếu không, trẻ có thể bị ngộ độc dẫn đến suy gan, suy thận.
Theo dõi tình trạng sốt khi nhiệt độ của trẻ hạ đến 38oC thì tiếp tục theo dõi nhiệt độ mỗi 3 giờ và cặp nhiệt lại ngay bất kỳ lúc nào thấy trẻ sốt.
Chọn chế độ dinh dưỡng thích hợp: khi nhiệt độ cơ thể tăng 1oC thì chuyển hóa cơ bản tăng > 10%, do vậy nhu cầu năng lượng và nước tăng. Vì thế:
- Không ăn kiêng (trừ những thức ăn trẻ từng bị dị ứng). Ăn kiêng sẽ làm trẻ mất sức, giảm khả năng chống lại bệnh khiến bệnh kéo dài hơn, dễ mắc thêm các bệnh khác và suy dinh dưỡng.
- Đối với trẻ còn bú: cho trẻ bú nhiều hơn.
- Đối với trẻ đã biết ăn: cho trẻ ăn đầy đủ ngũ cốc, thịt cá, rau cải, trái cây, dầu. Thức ăn cần mềm, đa dạng, dễ tiêu hóa, chia thành các bữa ăn nhỏ (tăng số bữa ăn trong ngày).
- Uống nhiều nước vì trẻ bị sốt thường mất nhiều nước qua đường mồ hôi, hô hấp... Uống ít nước, sốt sẽ khó hạ.
Theo dõi các dấu hiệu đi kèm sốt là việc quan trọng nhất khi chăm sóc trẻ sốt, vì góp phần rất lớn trong việc xác định nguyên nhân gây sốt và mức độ nguy hiểm cho trẻ. Những dấu hiệu cần lưu ý là:
- Những nốt đỏ trên da mà dân gian thường gọi là banĐặc biệt nếu những nốt này không biến mất khi căng da thì không phải là ban mà là chấm xuất huyết, thường xuất hiện trong các bệnh nặng hơn các trường hợp phát ban thông thường.
- Bóng nước, đặc biệt là bóng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, miệng.
- Chảy máu: răng, mũi, ói máu, tiêu ra máu.
- Vàng da, vàng mắt.
- Ói nhiều hơn lượng thức ăn uống vào.
- Tiêu lỏng nhiều hơn lượng nước uống vào.
- Tiêu đàm máu.
- Thở nhanh: đếm nhịp thở của trẻ trong 1 phútGọi là thở nhanh khi: nhịp thở > 60 lần/phút ở trẻ < 2 tháng, nhịp thở ≥ 50 lần/phút ở trẻ 2 – 11 tháng.
- Nhịp thở ≥ 40 lần/phút lên ở trẻ 2 tháng - 5 tuổi. Vì nhịp thở có thể tăng khi trẻ gắng sức (bú, quấy khóc...) nên cần phải đếm nhịp thở khi trẻ nằm im, tốt nhất khi trẻ ngủ.
Thở có lõm ngực.
- Tiểu ít hơn bình thường.
- Co giật.
- Khó xoay trở hoặc có tư thế bất thường.
Nếu trẻ có một trong những dấu hiệu trên nên đưa trẻ đến bác sĩ ngay.
Khai thác các yếu tố lây nhiễm: các chi tiết như trong vòng 1 tháng trước khi bệnh trẻ có tiếp xúc với người bệnh hoặc súc vật bệnh, có đi qua hoặc sống ở những vùng có dịch bệnh không?
Một số câu hỏi thường gặp từ thân nhân
Có phải cho uống thuốc hạ sốt đúng cách thì nhiệt độ phải trở lại bình thường?
Tùy theo đáp ứng của mỗi người mà nhiệt độ cơ thể giảm 1 - 2oC sau khi uống thuốc hạ sốt. Cho nên nếu nhiệt độ có giảm sau uống thuốc nhưng vẫn cao hơn bình thường nghĩa là vẫn còn sốt. Ngoài ra, mỗi loại thuốc có tác dụng chỉ trong một khoảng thời gian nhất định và thuốc hạ sốt cũng thế. Khi thời gian tác dụng của thuốc đã hết mà bệnh vẫn còn tiến triển thì bệnh nhân sẽ sốt lại. Do đó, điều trị sốt là phải điều trị nguyên nhân gây sốt.
Sốt có nguy hiểm hay không là tùy thuộc 4 yếu tố:
- Mức độ sốt.
- Phản ứng của cơ thể bệnh nhân đối với sốt.
- Nguyên nhân gây ra sốt.
- Cách xử trí của người chăm sóc trẻ là sự can thiệp tích cực nhất trong việc giúp trẻ đối phó với cơn sốt đang xảy ra. Người chăm sóc trẻ cần phải biết “làm gì khi trẻ sốt”.
Có nên dùng rượu hoặc nước đá để lau cho hạ sốt? Không nên vì: rượu có thể gây ngộ độc qua da, nước đá có nhiệt độ rất thấp sẽ gây ra 2 hiện tượng:
- Co mạch làm giảm sự thoát nhiệt.
- Trẻ bị run làm tăng sinh nhiệt.
Hai hiện tượng này làm cho sốt khó hạ.
Đa số các trường hợp sốt là do bệnh nhiễm. Vì thế, để hạn chế sốt, nên cho trẻ tiêm hoặc uống ngừa các bệnh nhiễm như: bạch hầu, uốn ván, ho gà, lao, viêm gan siêu vi A-B, sốt bại liệt, sởi, quai bị, rubella, thủy đậu, Hib, não mô cầu, cúm, viêm phổi, tiêu chảy…
TS.BS. NGUYỄN THỊ NGỌC NGA

Biến chứng răng khôn

Răng khôn là chiếc răng nằm ở vị trí số 8 trên khung xương hàm, thường biến chứng trong thời gian mọc, gây ra nhiều vấn đề rắc rối, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống nếu không có sự can thiệp kịp thời.
Với một người bình thường, răng khôn thường mọc lúc 16 tuổi, đến 25 tuổi thì mọc hoàn chỉnh. Bên cạnh một số yếu tố về sức khỏe, điều kiện dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của răng khôn.
 Khám răng cho trẻ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình.  Ảnh: Quốc Nam
Trung bình một người sẽ có bốn chiếc răng khôn, hai chiếc nằm ở hàm trên, hai chiếc ở hàm dưới. Khi răng khôn bắt đầu mọc, sẽ gây nóng sốt, sưng viêm vùng nướu quanh chân răng. Tình trạng nặng có thể dẫn đến áp-xe má, ảnh hưởng đến thẩm mỹ khuôn mặt, nặng hơn nữa có thể rò ra ngoài má, buộc bệnh nhân phải phẫu thuật tái tạo lỗ rò. Răng khôn mọc trong thời gian dài mới hoàn chỉnh. Trong thời gian mọc sẽ gây đau làm bệnh nhân giảm vận động nhai thức ăn.
Theo các bác sĩ chuyên khoa, răng khôn không có chức năng nhai nên việc nhổ bỏ trong thời gian răng phát triển là cần thiết. Răng khôn mọc bình thường, không gây khó chịu thì không có vấn đề gì, nhưng nhiều trường hợp răng mọc lệch, nằm nghiêng hoặc không mọc lên được, cần phải có sự can thiệp ngoại khoa ngay.
Khi nào nên nhổ bỏ răng khôn?
Theo các bác sĩ, răng khôn ở hàm dưới thường xảy ra tình trạng mọc lệch do răng sữa mọc muộn và rụng muộn. Mỗi người nên kiểm tra răng định kì 6 tháng/lần để theo dõi việc mọc răng khôn trong giai đoạn từ 16 tuổi trở đi.
Răng khôn không mọc lên được sẽ gây nóng sốt, sưng đỏ và khó nuốt thức ăn. Lúc này, bác sĩ chuyên khoa sẽ rạch nướu để răng phát triển, tuy nhiên thủ thuật này chỉ áp dụng khi chụp phim cho thấy răng mọc thẳng và bệnh nhân không muốn nhổ bỏ. Việc này sẽ giúp răng mọc nhanh hơn nhưng có nguy cơ nhiễm trùng nướu nếu bệnh nhân vệ sinh răng miệng không đúng cách
Răng khôn mọc lệch sẽ gây sâu răng bên cạnh, răng bị sâu nhiễm trùng dai dẳng trong một thời gian dài, bệnh nhân có thể đau hoặc không đau. Nhiễm trùng răng thường dẫn đến viêm tấy lan tỏa vùng sàn miệng, lúc này bệnh nhân có các triệu chứng: sốt, ăn uống khó, mệt mỏi, kể cả mất ngủ. Răng khôn mọc lệch đâm vào khung xương hàm dẫn đến đau vùng má, mang tai, vùng dưới hàm gây viêm mô tế bào, phá hủy xương hàm. Sự phá hủy xương hàm sẽ ảnh hưởng đến sức nhai rất lớn, buộc bệnh nhân phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật như tái tạo lại khung xương hàm đã mất, phẫu thuật implant (cắm ghép răng mới).
Để có một hàm răng khỏe đẹp nên nhai đều hai bên giúp khung xương phát triển bình thường, khám răng định kỳ 6 tháng/lần. Đối với răng khôn, việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, kịp thời rất quan trọng, mang lại nhiều lợi ích, nếu không sẽ tốn kém nhiều thời gian và có khi tổn hại cho sức khỏe.            
BS. Nguyễn Minh

Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ em

Xuất huyết giảm tiểu cầu (XHGTC) là một bệnh lý hay gặp ở trẻ em, thường có diễn biến cấp tính. XHGTC tiên phát là bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ em. Gần đây người ta đã chứng minh được cơ chế miễn dịch của bệnh khi tìm thấy các kháng thể kháng lại tiểu cầu. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi của trẻ em nhưng có thể phân thành 2 nhóm khác biệt: ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn.
 Hình ảnh xuất huyết giảm tiểu cầu trên da.
Vì sao tiểu cầu suy giảm?
Tiểu cầu là một trong 3 loại tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu). Tiểu cầu có kích thước rất nhỏ, từ 1 - 4mm, chúng được sinh ra ở tuỷ xương, từ các mẫu tiểu cầu. Chúng có chức năng quan trọng trong cầm máu, nhờ các tính chất đặc thù như: tập trung thành từng đám dính chặt vào thành mạch nơi bị tổn thương và thoái hoá chất nhày để giải phóng ra yếu tố gây đông máu. Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình cầm máu và bảo vệ thành mạch không bị rò rỉ. Khi số lượng tiểu cầu giảm thì quá trình này không được thực hiện và xảy ra tình trạng xuất huyết.
Có nhiều nguyên nhân gây ra giảm tiểu cầu nhưng tập trung nằm ở hai nhóm nguyên nhân lớn sau đây: tăng phá hủy tiểu cầu ở máu ngoại vi; giảm sinh tiểu cầu ở tủy xương.
Trong nhóm đầu tiên lại có rất nhiều bệnh khác nhau như: đông máu trong lòng mạch cấp tính và mạn tính gây tiêu thụ lớn tiểu cầu, các u máu lớn ở các vị trí khác nhau của cơ thể, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm virut nặng gây giảm tiểu cầu... hoặc các bệnh có kháng thể kháng lại tế bào máu như tan máu tự miễn kèm theo giảm tiểu cầu, bệnh lupus ban đỏ... Trong nhóm này phải kể đến bệnh XHGTC tiên phát mà ngày nay nhiều tác giả gọi đó là xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn mà chúng ta sẽ nói nhiều sau đây.
Trong nhóm thứ 2, gồm một số bệnh lý ở tủy xương gây giảm các mẫu tiểu cầu như bệnh suy tủy toàn bộ, suy một dòng mẫu tiểu cầu hay các bệnh ác tính ở tủy xương như ung thư di căn tủy, lơxêmi cấp... khi đó giảm tiểu cầu là tình trạng thứ phát do các bệnh chính gây ra.
XHGTC tiên phát là bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ em. Gần đây người ta đã chứng minh được cơ chế miễn dịch của bệnh khi tìm thấy các kháng thể kháng lại tiểu cầu. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi của trẻ em nhưng có thể phân thành 2 nhóm khác biệt: ở trẻ nhũ nhi và trẻ lớn.                  
Những biểu hiện của bệnh không nên bỏ qua
Bệnh thường có khởi phát từ từ, kín đáo với sự xuất hiện của các nốt xuất huyết chấm đỏ hoặc bầm tím, hoặc xuất huyết do xây xước nhẹ trên da, không kèm theo sốt, thiếu máu, sưng hạch hoặc các biểu hiện toàn thân khác. Các nốt xuất huyết có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, thường là không có tính chất đối xứng ở hai chi. Các nốt hoặc mảng tụ máu có thể tự nhiên xuất hiện hoặc do va đập nhẹ, thường là ở chân tay, mặt. Những vết cào xước nhẹ ở cổ, thân mình, chân tay cũng gây ra những dải xuất huyết. Rất ít khi bệnh biểu hiện chảy máu nặng ngay từ đầu như chảy máu mũi, chân răng, xuất huyết tiêu hoá hay tiểu ra máu.
Nan giải khi bệnh chuyển mạn tính
XHGTC ở trẻ em thường có diễn biến cấp tính. Khoảng 70- 80% các trường hợp tiểu cầu trở lại bình thường sau một vài tuần đến 3 tháng khi đã được điều trị. Chỉ 20% trở thành mạn tính, số lượng tiểu cầu thấp kéo dài hoặc tái diễn, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp điều trị. Khi số lượng tiểu cầu giảm nặng cần có các biện pháp đề phòng chảy máu, đặc biệt là chảy máu ở phổi, não dễ gây tử vong cho người bệnh. Ở trẻ nhũ nhi, bệnh thường hồi phục nhanh chóng, có thể tự khỏi mà không cần điều trị đặc hiệu. Vì vậy việc cần thiết là đưa trẻ đến các chuyên khoa huyết học để khám và theo dõi, tránh tiêm các thuốc hoặc làm các thủ thuật gây chảy máu hoặc tụ máu thêm cho trẻ.
Nguyên tắc của điều trị XHGTC là dựa vào cơ chế miễn dịch của bệnh. Corticosteroid được sử dụng như một thuốc kinh điển để điều trị XHGTC. Các thuốc ức chế miễn dịch khác cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ hoặc thay thế khi các tác dụng phụ của corticosteroid nặng nề. Gần đây, người ta đã áp dụng các chất kháng lymphoB điều trị các thể XHGTC mạn tính, nhất là ở trẻ lớn. Trong các trường hợp có tiểu cầu giảm nặng, nguy cơ xuất huyết nội tạng hoặc não cao thì cần truyền tiểu cầu.
Đối với các trường hợp mạn tính thì việc điều trị còn rất nan giải. Những bệnh nhi này cần được theo dõi tốt, tránh các biến chứng do xuất huyết. Mặt khác cần hạn chế sử dụng corticosteroid liều cao, kéo dài làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Ở trẻ gái đến tuổi có kinh nguyệt thường có biểu hiện rong kinh, đôi khi gây thiếu máu nặng. Điều trị các trường hợp này cần sự phối hợp giữa huyết học với sản khoa và nội tiết.
TS. Dương Bá Trực

Phòng bệnh viêm họng cấp ở trẻ em

Họng với nhiều chức năng sinh lý khác nhau như: nuốt, thở, phát âm, vị giác… là ngã tư đường ăn và đường thở, là cửa ngõ của không khí, thức ăn và nước uống, cho nên là nơi rất thuận lợi cho virus, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh, đặc biệt là viêm họng cấp ở trẻ em. Bệnh chiếm tỷ lệ hàng đầu trong số lần khám tại các phòng khám nhi khoa.
Viêm họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến
Nguyên nhân gây bệnh thường
xuất hiện do vi khuẩn như: phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng hay virus gây nên như: virus cúm, sởi… Nguy hiểm hơn cả là do liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A gây nên, từ viêm họng dẫn đến biến chứng thấp tim, thấp khớp, viêm thận. Một số nguyên nhân khác cũng có thể làm cho trẻ em viêm họng như: do khói thuốc lá, do bụi bẩn, do môi trường sống của bé không trong sạch, do bị dị ứng mãn tính, hay do nhiệt độ phòng ngủ của bé không thích hợp…
Về triệu chứng, viêm họng cấp thường khởi phát đột ngột, sốt cao 39 - 40oC, kèm theo đó là nuốt đau, rát họng, khàn tiếng có thể kèm theo các triệu chứng khác như: chảy nước mũi nhầy, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan, trẻ mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, đặc biệt hay có viêm tấy hạch vùng cổ, hạch góc hàm sưng, đau… Với bé còn bú mẹ, viêm họng thường kèm theo bú ít hoặc bỏ bú, há miệng khi ngủ, bức rức khó chịu và quấy khóc. Với trẻ lớn hơn thường kêu đau vùng họng, chán ăn nên dễ làm cho cha mẹ nhầm tưởng rằng đó là những dấu hiệu khó chịu khi bé mọc răng…
Bệnh thường kéo dài từ 7 - 10 ngày là khỏi hẳn, nếu kéo dài hơn dễ gây nên các biến chứng, nhất là vào tuần thứ hai, thứ ba như: thấp khớp, thấp tim, viêm cầu thận cấp, bệnh viêm tấy quanh amiđan, viêm tai, viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm hạch mủ, nhiễm trùng huyết. Ở trẻ em, khi bị viêm họng cấp, ngoài những biến chứng kể trên, nguy hiểm nhất là có thể gây bệnh thấp tim, thấp khớp và viêm cầu thận ở trẻ em, do liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A, từ viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp và cầu thận. Khi bị biến chứng viêm họng do liên cầu khuẩn, trẻ có các dấu hiệu sốt, đau họng, ho, tiếp đến là sưng, nóng các khớp, đặc biệt là sưng khớp gối, khớp khuỷu và chạy từ khớp này sang khớp khác. Sưng khớp và khớp di chuyển là một yếu tố quan trọng để nhận biết nguy cơ bị thấp tim ở bệnh nhân. Và một biến chứng phổ biến nhất là chuyển từ viêm họng cấp tính trở thành viêm họng mãn tính, đây là cơ hội để bệnh tái đi tái lại nhiều lần.
Về điều trị, với em bé dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38oC thì nên cần nhanh chóng được thăm khám, tốt nhất là bác sĩ chuyên khoa nhi, tránh tự ý điều trị, vì trẻ em sốt cao rất dễ đưa đến co giật, lau mát cho trẻ bằng nước ấm, tránh ủ nhiều quần áo, thực hiện đúng theo toa thuốc của bác sĩ, sau khi uống thuốc theo toa vẫn chưa đỡ, sau 24 - 48 giờ, bệnh không thuyên giảm thì cần nhập viện để theo dõi và điều trị.
Phòng bệnh được không?
Ông cha ta có câu “phòng bệnh hơn chữa bệnh” vì vậy, cần có giải pháp để phòng bệnh. Cần vệ sinh họng, răng, miệng hàng ngày như: đánh răng, súc họng bằng nước muối loãng. Khi mắc bệnh răng, miệng, xoang, mũi... cần được điều trị dứt điểm tránh để mầm bệnh tồn tại và lây lan vào gây viêm họng. Khi viêm họng có chỉ định điều trị, cần thực hiện nghiêm túc, uống thuốc theo toa, đúng phác đồ kháng sinh được kê toa. Cần cho bé uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian, không được tự ý mua thuốc kháng sinh để điều trị vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng kháng thuốc, làm cho điều trị sau này gặp nhiều khó khăn do tình trạng kháng thuốc. Cần đeo khẩu trang cho trẻ khi ra đường để tránh khói bụi. Tránh cho trẻ uống nước quá lạnh hoặc quá nóng hay có thói quen ngậm kẹo hay ăn kem. Với phòng ngủ, cần thoáng mát, nếu có điều hòa nhiệt độ cần giữ ở mức nhiệt độ mát mẻ dễ chịu, nhiệt độ lý tưởng cho trẻ là khoảng 24 – 26oC. Nếu sử dụng quạt, nên cho trẻ nằm quạt tốc độ lớn trong thời gian ngắn giúp trẻ dễ ngủ, sau đó giảm dần cường độ, quạt phải luôn được quay thay đổi hướng gió. Tập cho trẻ thói quen uống nhiều nước, tốt nhất là nước đun sôi để nguội, đánh răng sau mỗi bữa ăn, tập thể dục. Tập thói quen rửa tay trước khi ãn và rửa tay sau khi đi vệ sinh. Với trẻ nhỏ, nhất là trẻ nhỏ còn bú mẹ, cần thực hiện tốt chế độ nuôi dưỡng tốt, dinh dưỡng cân bằng đủ dưỡng chất, uống vitamin A đầy đủ theo hướng dẫn, tắm nắng chống còi xương, suy dinh dưỡng. Luôn giữ cho trẻ ấm áp, tránh gió lùa, tránh tập trung nơi đông người, tránh nơi môi trường bị ô nhiễm, khói bụi.
Đối với phòng bệnh thấp tim, cần được dự phòng bằng kháng sinh penicillin. Theo ước tính, có khoảng 5% trẻ em bị nhiễm khuẩn hô hấp do liên cầu. Dự phòng bằng cách tiêm bắp, với liều duy nhất penicillin benzathin, với trẻ dưới 10 tuổi dùng 600.000 UI, trên 10 tuổi 900.000 UI. Hoặc có thể dùng penicillin V bằng đường uống với liều 200.000 - 250.000 UI, uống 3 hay 4 lần trong ngày, uống 10 ngày liền. Nếu bệnh nhi có phản ứng với penicillin thì cho uống erythromycin với liều 45mg/kg thể trọng trong một ngày, uống liền trong 10 ngày. Hiện nay vắc-xin chủng ngừa liên cầu trùng bê-ta tan máu nhóm A đã thực hiện thành công, nhưng giá thành còn cao.
BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG

Chăm sóc trẻ bị tim bẩm sinh

Bệnh tim bẩm sinh là các dị tật của tim có từ lúc trẻ còn trong bào thai. Các dị tật này có thể ở các vị trí sau: van tim (hẹp van, hở van, không có lỗ van), buồng tim (tim chỉ có một tâm nhĩ, hay một tâm thất, hay 3 buồng tâm nhĩ), vách ngăn tim hay các động mạch lớn gần tim.
Nguyên nhân
Rất khó xác định nguyên nhân gây ra tim bẩm sinh (TBS). Một số ít bệnh TBS là do di truyền, phần lớn còn lại do sự tác động của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài lên bà mẹ lúc mang thai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu tiên như: bị cảm cúm, sốt phát ban, nhiễm trùng, bệnh tiểu đường, lupus ban đỏ, uống rượu, uống thuốc bừa bãi, sống trong môi trường có nhiều tia X, tia phóng xạ, hóa chất độc hại. Ngoài ra, các bà mẹ trên 40 tuổi sinh con có tỷ lệ bị TBS cao hơn.
Chăm sóc Trẻ bị TBS Tất cả trẻ bị TBS vẫn phải tiêm phòng như mọi trẻ bình thường khác. Đối với những trẻ còn đang bú sữa, để tránh bị sặc sữa, không được cho trẻ bú khi nằm, phải bế trẻ lên và để đầu trẻ cao khi bú. Nếu trẻ không bú được nhiều, mẹ nên cho bú nhiều lần hơn bình thường và mỗi lần bú số lượng sữa có thể giảm đi. Đối với trẻ lớn đã ăn cơm, gia đình nên cho trẻ ăn nhạt nhưng vẫn đầy đủ chất bổ dưỡng. Nên cho trẻ ăn chế độ ăn có nhiều rau, trái cây để tránh táo bón. Ngoài ra những trẻ lớn bị suy tim chỉ nên uống nước khi khát. Ngược lại những trẻ bị TBS tím, máu bị cô đặc nhiều, nên uống nhiều nước. Trẻ đang độ tuổi đi học vẫn có thể tiếp tục đến trường; gia đình cần kết hợp với nhà trường để miễn cho trẻ những hoạt động nặng cần phải gắng sức như chơi những môn thể thao đòi hỏi sự gắng sức cao độ, hoặc lao động nặng. Khi trẻ đã bị suy tim nên cho trẻ nằm đầu cao khi ngủ.
Trẻ bị TBS rất dễ bị viêm phổi, để tránh biến chứng này gia đình nên giữ trẻ ấm khi trời lạnh, không cho trẻ ở những nơi có nhiều khói bụi, không nên hút thuốc lá ở những chỗ trẻ ở. Nếu trong gia đình có người mắc các bệnh ho, cảm cúm thì nên tránh xa trẻ, không nên tiếp xúc với trẻ. Ngoài ra trẻ TBS cũng dễ bị nhiễm trùng vùng răng miệng, từ đó sẽ dẫn tới nhiễm trùng máu và nội mạc tim, rất nguy hiểm. Chính vì thế gia đình nên hướng dẫn trẻ cách đánh răng sau mỗi bữa ăn, khám bác sĩ nha khoa định kỳ 6 tháng/lần. Nếu cần nhổ răng hay làm các thủ thuật, phẫu thuật có gây chảy máu phải báo cho bác sĩ biết trẻ bị TBS để được uống hoặc tiêm kháng sinh dự phòng trước và sau thủ thuật, phẫu thuật.
Có phải tất cả đều phải dùng thuốc?
Về điều trị, không phải tất cả các trẻ bị TBS đều cần dùng thuốc, bác sĩ sẽ cho các loại thuốc khác nhau tùy theo loại bệnh tim và mức độ nặng nhẹ của bệnh. Có rất nhiều loại thuốc để điều trị TBS, các loại này đều dùng không đúng chỉ định có thể có hại cho trẻ. Chính vì thế gia đình chỉ cho trẻ uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ, không tự động ngưng thuốc khiến bệnh sẽ nặng hơn, không tự động tăng hoặc giảm liều thuốc vì sẽ nguy hiểm cho trẻ. Trong khi dùng thuốc nếu trẻ xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào khác thường, gia đình nên báo ngay cho bác sĩ biết.
Trẻ bị TBS nên tái khám định kỳ mỗi tháng, 2 tháng, 3 tháng hay 6 tháng tùy theo chỉ định của bác sĩ. Dù trẻ có bình thường cũng nên đi tái khám theo lịch hẹn để bác sĩ đánh giá diễn tiến của bệnh, phát hiện các biến chứng cũng như điều chỉnh lại liều lượng thuốc cho phù hợp với cân nặng tăng dần của trẻ. Nên cho trẻ khám lại ngay nếu có bất kỳ triệu chứng nào khác thường như: sốt, ho, tiêu chảy, nôn mửa, phù, tiểu ít, bỏ bú, quấy khóc, thở mệt, rên rỉ, lừ đừ hay bứt rứt lên cơn tím tái, co giật, hôn mê.    
BS. Vũ Minh Phúc

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons