Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Các chấn thương răng thường gặp ở trẻ

Chấn thương răng xảy ra khá phổ biến, một số nghiên cứu cho thấy có đến 25% trẻ đến trường từng bị chấn thương răng và ở trẻ mầm non thì chấn thương răng chiếm 1/5 so với các loại chấn thương khác. Chấn thương răngcó thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp nhất vẫn là ở trẻ em đặc biệt là trong những năm đầu đời và năm đầu tiên đi học, trong đó trẻ trai hay gặp nhiều hơn trẻ gái. Phần lớn chấn thương răng liên quan đến răng cửa và ở hàm trên vì thế gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới thẩm mỹ và chức năng ăn nhai từ đó ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý của trẻ. Việc điều trị chấn thương răng đôi khi là không thể hồi phục khi răng gãy hoặc rơi mất vì vậy cách tốt nhất là chúng ta nên hiểu và dự phòng để tránh tổn thương răng cho trẻ.
Các chấn thương răng thường gặp ở trẻ
Máng nhựa bảo vệ răng.
Nguyên nhân gây chấn thương răng
Ở lứa tuổi mẫu giáo thì nguyên nhân phổ biến nhất vẫn là tai nạn sinh hoạt, do trẻ hiếu động chạy nhảy rồi ngã. Ở trẻ lớn hơn thì hay gặp do tai nạn giao thông đặc biệt là ngã xe đạp, xe máy, chơi thể thao các môn như đá bóng, võ thuật… Một số thói quen xấu của trẻ cũng có thể gây chấn thương răng như nhai đá lạnh, cắn vật cứng. Tuy nhiên có những yếu tố thuận lợi cho chấn thương răng mà đôi khi chúng ta không chú ý như: hàm răng vẩu, các răng cửa trên chìa nhiều ra trước, môi không che kín răng…
Thể thao là một trong những nguyên nhân gây chấn thương răng.
Chấn thương răng có các mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng như: răng lung lay, răng di lệch sang bên, răng lún vào bên trong xương ổ răng hoặc rời ra, răng rời ra ngoài xương ổ răng, gãy thân răng, gãy chân răng hoặc cả thân và chân răng.
Hậu quả khi trẻ bị chấn thương răng: sung huyết tủy răng; chảy máu tủy răng; vôi hóa tủy: buồng tủy, ống tủy bị bít kín dần do ngà lắng đọng; tủy răng bị hoại tử; tiêu chân răng...
Các ảnh hưởng trên mầm răng vĩnh viễn: thân răng bị đổi màu vàng nâu; thiểu sản men răng; chân răng bị tách đôi, tách đôi chân răng; thân răng bị gập, ngừng hình thành chân răng; rối loạn mọc răng...

ThS. Đoàn Thanh Tùng




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Chăm sóc răng miệng cho trẻ khe hở môi - vòm miệng

Khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM) là dị tật hàm mặt bẩm sinh phổ biến nhất, biểu hiện bởi sự tách rời, không liên tục của môi và vòm miệng. KHM - VM có thể gây ra nhiều vấn đề răng miệng, do đó cha mẹ cần được hướng dẫn cách chăm sóc răng miệng đúng để trẻ có sức khoẻ răng miệng tốt, hỗ trợ cho phẫu thuật hay các điều trị nắn chỉnh răng, phục hình răng sau này đạt được kết quả tốt nhất.
Trẻ bị KHM - VM thường gặp vấn đề liên quan đến sâu răng, viêm lợi (đặc biệt khi trẻ 2 - 5 tuổi) và vấn đề về lệch lạc răng, mất răng, thiếu thẩm mỹ (khi trẻ khoảng 6 - 12 tuổi). Các răng (đặc biệt là răng cửa bên hàm trên) có thể bị thiếu hoặc thừa hoặc vẫn hiện diện nhưng hình dạng thân và chân răng bất thường. Các răng tại vùng khe hở thường bị lạc chỗ, mọc ở vị trí bất thường. Các rối loạn phát triển xương hàm càng làm trầm trọng thêm các bệnh lý răng miệng.
Chăm sóc răng miệng cho trẻ khe hở môi - vòm miệng
Hình ảnh trẻ khe hở môi - vòm miệng.
Chăm sóc răng giai đoạn sớm
Trẻ bị KHM - VM thường có nguy cơ sâu răng cao, nhưng với cách chăm sóc phù hợp, trẻ vẫn có thể có hàm răng hoàn toàn khỏe mạnh. Việc chải răng cần được nhấn mạnh ở các răng quanh vùng khe hở. Nên dùng bàn chải lông mềm, đầu nhỏ để chải răng sớm nhất có thể. Cha mẹ sẽ được chuyên gia hướng dẫn cách vệ sinh răng miệng, cách chăm sóc hiệu quả cho các răng lệch lạc, dị dạng bất thường tại vùng khe hở. Trẻ nên được đi khám răng lần đầu tiên khi được khoảng 1 tuổi hoặc sớm hơn nếu có những vấn đề răng miệng đặc biệt. Thăm khám định kỳ được thực hiện khi trẻ khoảng 3 tuổi, nhằm đánh giá các vấn đề răng miệng từ sớm và thực hiện các điều trị nếu cần.
Trám bít hố răng tất cả các răng và bôi verni fluor định kỳ là việc cần phải làm ở phòng khám nha khoa cho tất cả trẻ em có KHM-VM.
Ngoài vấn đề chăm sóc răng miệng, bố mẹ trẻ cần phải được tư vấn về cách cho bú, cho ăn và các biện pháp dự phòng viêm nhiễm đường hô hấp trên.
Chăm sóc răng giai đoạn điều trị
Từ 6 - 15 tuổi, đặc biệt ở trẻ bị khe hở vòm miệng, do ảnh hưởng của sẹo mổ sau phẫu thuật làm xương hàm trên kém phát triển, các răng mọc lệch lạc và chen chúc. Trẻ cần được điều trị chỉnh nha với các khí cụ chỉnh hình, kích thích nong rộng cung hàm và giúp làm thẳng đều các răng. Khi răng nanh vĩnh viễn mọc (khoảng 7 - 9 tuổi), phần xương cần cho răng mọc bị khuyết thiếu được sửa chữa bằng phẫu thuật ghép xương ổ răng. Khi trẻ 8 - 12 tuổi, điều trị chỉnh nha với mắc cài giúp đưa các răng về đúng vị trí, sắp thẳng đều trên cung hàm. Với quy trình điều trị liên tục và phức tạp như vậy, thì việc lưu giữ được tối đa các răng mang khí cụ và duy trì sức khoẻ răng miệng tốt đóng vai trò quan trọng, giúp quá trình điều trị dễ dàng hơn. Trẻ cần được cha mẹ theo dõi và nhắc nhở tăng cường vệ sinh răng miệng. Khi mang các khí cụ trong miệng, trẻ cần được bác sĩ hướng dẫn cách chải răng đúng với sự hỗ trợ của các loại bàn chải chuyên biệt, kem đánh răng có nồng độ fluor cao (nếu cần).
Trong giai đoạn này, việc ghép xương vào các khe hở cũng cần được chú ý. Ghép sớm hay muộn đều có các ưu nhược điểm riêng. Do vậy cần có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để lựa chọn thời điểm điều trị phù hợp nhất cho trẻ.
Duy trì chăm sóc răng miệng
Sau điều trị nắn chỉnh răng và phẫu thuật, các răng bị mất hay thiếu thẩm mỹ có thể được phục hình bằng răng giả, cầu răng hay cắm implant. Bác sĩ có thể sử dụng các khí cụ bịt lỗ thông mũi miệng để giúp phát âm tốt hơn. Việc chăm sóc răng miệng đúng cách cần được duy trì để đảm bảo chức năng ăn nhai cũng như thẩm mỹ của hàm răng. Các thăm khám định kỳ 6 tháng/lần là cần thiết nhằm phát hiện và điều trị sớm các vấn đề răng miệng có thể gặp.

BSNT. Trần Thị Hương Trà




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Chớ coi thường răng sữa

Răng hỗn hợp là giai đoạn thay dần các răng sữa bằng răng vĩnh viễn ở trẻ từ 6 đến 11 tuổi. Trong thời gian này, trên cung răng của trẻ sẽ tồn tại cả răng sữa và răng vĩnh viễn mới mọc. Phụ huynh cần làm gì để trẻ có được bộ răng vĩnh viễn hoàn hảo về sau.
Chớ coi thường răng sữa
Nhiều bậc phụ huynh có quan niệm rằng, răng sữa là những răng không quan trọng, ít chức năng và sau vài năm sẽ được thay thế bằng hàm răng mới nên không mấy quan tâm đến việc giữ gìn và chăm sóc răng miệng cho con. Trên thực tế, răng sữa ngoài vai trò quan trọng trong việc tập nhai thức ăn trong những năm đầu đời còn có sự ảnh hưởng đến sự phát triển của răng vĩnh viễn sau này của trẻ.
Hệ răng sữa ở trẻ em: là bộ răng tạm thời, bất đầu mọc lúc khoảng 6 tháng tuổi và mọc đầy đủ lúc khoảng 24-36 tháng tuổi. Ở một bộ răng sữa đầy đủ có 20 cái, bao gồm: 8 răng cửa sữa, 4 răng nanh sữa, 8 răng cối sữa. Tuy chúng chỉ có 20 cái và là bộ răng tạm thời, chúng chỉ tồn tại trong miệng trong khoảng thời gian ngắn. Nhưng hệ răng sữa có chức năng quan trọng như giúp cho việc tiêu hóa thức ăn cho trẻ bằng cơ chế cắt, xé, nhai, nghiền nát; chức năng thứ hai được biết đến của răng sữa là giữ khoảng (giữ chỗ) trên cung hàm cho răng vĩnh viễn sau này mọc lên. Nhờ có các răng sữa, bé có thể cắn xé và nhai nghiền thức ăn – chính những động tác này góp phần vào việc làm cho xương hàm và xương mặt phát triển; giúp phát âm nếu như có sự mất sớm các răng sữa phía trước (răng của sữa và răng nanh sữa ), có thể ảnh hưởng và gây khó khăn cho sự phát âm trong khi trẻ nói chuyện; hệ răng sữa còn giữ chức năng thẩm mỹ cho khuôn mặt trẻ.
Răng sữa có vai trò quan trọng như vậy, nên các bậc phụ huynh cần quan tâm đến việc chăm sóc và giữ gìn răng sữa cho trẻ thật kĩ lưỡng. Hàm răng của bé có khỏe, đẹp hay không tùy thuộc rất nhiều vào sự quan tâm và kiến thức của các vị phụ huynh.

ThS. Lê Minh




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Hiểu về quá trình thay răng của bé

Trước hết là tuổi mọc răng: trước 6 tuổi chưa có răng vĩnh viễn; sau 6 tuổi chú ý răng trong cùng là răng hàm vĩnh viễn thứ nhất; kích thước mặt nhai của răng hàm to hơn răng sữa; khi trẻ 8 tuổi đến 12 tuổi, hàm răng trên của trẻ mọc lẫn lộn răng sữa với răng vĩnh viễn, kích thước của răng vĩnh viễn đều to hơn răng sữa.
Hiểu về quá trình thay răng của bé
Răng sữa bắt đầu mọc ở tháng thứ 6 sau khi sinh và hoàn tất bộ răng sữa ở tháng thứ 22-24 gồm: 20 răng 8 răng cửa, 4 răng nanh, 8 răng hàm (răng cối sữa).
Răng vĩnh viễn đầu tiên mọc trên hàm là răng hàm (răng cối lớn) mọc lúc 6 tuổi nên còn gọi là răng 6 tuổi. Khi trẻ 7 tuổi các răng cửa sữa bắt đầu lung lay để răng vĩnh viễn mọc lên thay thế và đến 12 tuổi thì hoàn tất việc thay răng, lúc này đứa trẻ đã có 28 răng. Đến tuổi trưởng thành sau 18 tuổi, một người sẽ có 32 răng.
Khi chiếc răng vĩnh viễn đầu tiên bắt đầu mọc lên (lúc bé 6 tuổi), thì cũng là lúc những chiếc răng sữa bắt đầu lung lay và rụng dần để được thay thế bằng những chiếc răng vĩnh viễn. Thời gian này trên cung hàm của trẻ tồn tại cả 2 hệ răng sữa và răng vĩnh viễn, nên còn có tên gọi là giai đoạn răng hỗn hợp. Để có bộ răng sữa và răng vĩnh viễn sau này đẹp cần có sự hợp tác tốt của phụ huynh, của bé và của bác sĩ nha khoa.

ThS. Lê Minh

Cách giảm chứng biếng ăn ở trẻ

Bài 3: Bổ sung dinh dưỡng cho trẻ biếng ăn
Hiện nay, một số giải pháp nhằm giải quyết tình trạng biếng ăn và thiếu hụt dinh dưỡng ở trẻ đang được áp dụng, như: tư vấn chế độ dinh dưỡng, bổ sung thức ăn hay vi chất cần thiết. Trong số đó, hiệu quả và sự an toàn của Phương pháp bổ sung dinh dưỡng cho trẻ em đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu lâm sàng. Gần đây, phương pháp này còn được thử nghiệm bằng một nghiên cứu kéo dài 48 tuần được thực hiện bởi Abbott và Trung tâm Y tế - Bệnh viện khu vực châu Á ở Manila (Philippines).
Kết quả của nghiên cứu cho thấy việc bổ sung dinh dưỡng 2 lần mỗi ngày giúp nhóm trẻ có nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng tăng trưởng nhanh hơn chỉ trong 4 tuần đầu. Sự phát triển ổn định về chiều cao và cân nặng (không có sự tăng cân quá mức) cũng được ghi nhận trong suốt quá trình nghiên cứu. Mặt khác, số ngày trẻ bị bệnh giảm và sự hứng thú với việc ăn và các hoạt động thể chất gia tăng nhờ phương pháp bổ sung dinh dưỡng này.
Phương pháp này kết hợp với việc thay đổi hành vi có thể xem là một công cụ hữu hiệu để giải quyết tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng ở trẻ, giúp trẻ bắt kịp và duy trì đà tăng trưởng tối ưu.




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Dinh dưỡng cho trẻ ốm

Về chế độ dinh dưỡng khi trẻ ốm, tùy từng bệnh có những kiêng khem hay bồi dưỡng đặc biệt. Tuy nhiên, khi trẻ ốm người mẹ cần chú ý một số vấn đề sau: Cho trẻ ăn nhiều bữa hơn với số lượng mỗi bữa ít hơn. Thức ăn cho trẻ ốm cần nấu loãng và giàu chất dinh dưỡng hơn. Khi trẻ ốm không cần kiêng khem các loại thực phẩm như tôm, cá, dầu mỡ và rau xanh. Khi trẻ ốm cần cho trẻ uống nhiều nước, nhất là đối với trẻ bị tiêu chảy. Súp, nước cháo muối, dung dịch oresol chỉ là các dịch để bù nước, không nên coi là thức ăn vì không cung cấp đủ chất dinh dưỡng.
Trẻ bị tiêu chảy tránh cho ăn các thực phẩm có nhiều đường, nước ngọt có gas vì có thể làm tiêu chảy nặng hơn. Đồng thời cần tránh thức ăn có nhiều chất xơ, ít dinh dưỡng như các loại rau thô, tinh bột nguyên hạt như ngô đỗ gây khó tiêu. Khi trẻ ốm người mẹ và gia đình cần dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc, dỗ dành trẻ ăn được nhiều. Với trẻ bị viêm nhiễm hô hấp, bị sổ mũi gây khó thở cần làm thông thoáng mũi cho trẻ bằng bông gạc để giúp trẻ bú mẹ và ăn uống dễ dàng. Gia đình cần tập trung quan tâm chăm sóc trẻ khi trẻ ốm, trẻ sốt phải theo dõi nhiệt độ hay trẻ bị tiêu chảy thì cần theo dõi số lần đi ngoài... như vậy sẽ sớm phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm để đưa trẻ đến bệnh viện kịp thời.




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

Có nên khí dung cho trẻ khi bị viêm phế quản?

Khí dung là dùng máy xông hơi thuốc dưới dạng sương mù - là một trong các biện pháp điều trị tại chỗ cho các bệnh lý thuộc niêm mạc đường hô hấp (bệnh lý của chuyên khoa tai mũi họng hoặc của hô hấp - phổi) như viêm mũi họng, viêm thanh quản, viêm khí-phế quản, viêm mũi xoang. Khi xông hơi thuốc dưới dạng sương do máy tạo ra sẽ được đẩy bám dính vào lớp lông chuyển của niêm mạc đường hô hấp tác dụng trực tiếp lên những chỗ viêm nhiễm nên có tác dụng nhanh nhưng thời gian duy trì thuốc ngắn. Tùy từng bệnh mà thầy thuốc sẽ dùng những loại máy xông khác nhau (máy xông trong tai mũi họng hoặc máy xông cho các bệnh lý của phổi) cũng như các loại thuốc khác nhau. Một số thuốc hay được sử dụng là kháng sinh, chống viêm, giãn phế quản, thuốc có tinh dầu... dạng dịch có thể kết hợp kháng viêm có corticoid. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc khí dung phải có chỉ định và theo dõi của thầy thuốc. Thời gian khí dung thường từ 5-7 ngày. Điều lưu ý là những bệnh lý mà trẻ mắc phải 80% là do virut nên thường chỉ dùng các thuốc chữa triệu chứng như hạ sốt, giảm ho nhóm long đờm, chống ngạt tắc mũi... để cơ thể trẻ có khả năng tự sản sinh ra kháng thể chống lại các bệnh lý này. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có bội nhiễm vi khuẩn. Việc dùng kháng sinh bằng đường khí dung so với dùng thuốc kháng sinh đường uống sẽ có lợi là thuốc tác động trực tiếp tại chỗ, trẻ không bị nôn như dùng đường uống... Tốt nhất mỗi khi trẻ bị bệnh cần đưa đi khám bác sĩ chuyên khoa để có được lời khuyên chính xác và phải tuyệt đối tin tưởng và làm theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc điều trị. Trao đổi ngay những thay đổi của trẻ kể cả tốt lên hoặc xấu đi với bác sĩ điều trị để họ có thể theo dõi và điều chỉnh các thuốc cho phù hợp.




NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ


Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons