This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015
Chăm sóc khi trẻ mọc răng sữa
Thường trẻ bắt đầu mọc răng sữa từ tháng thứ 6, nhưng cũng có thể sớm hơn (tháng thứ 5) hoặc muộn hơn (tháng 7 - 8). Khi mọc răng hầu hết trẻ thường có biểu hiện: chảy nhiều nước dãi, biếng ăn, quấy khóc, khó ngủ, đôi khi có thể sốt nhẹ, tiêu chảy,… Cha mẹ và người chăm sóc trẻ cần chú ý chăm sóc như sau:
Mọc răng thường làm bé bị đau và rất khó chịu. Trước khi răng nhú lên, bạn sẽ thấy lợi của bé đỏ và sưng, có thể kèm theo sốt nhẹ, do đó bé hay quấy khóc và lười ăn. Vì vậy bạn nên chăm sóc vỗ về bé. Nếu bé sốt trên 38,50C, bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ và cho bé uống thuốc hạ sốt theo chỉ dẫn.
Thường xuyên lau sạch miệng cho bé bằng khăn mềm.
Chế độ dinh dưỡng cho bé trong giai đoạn mọc răng cần bảo đảm đầy đủ, hợp lý và nhất là phải bổ sung canxi, giúp bé có mầm răng chắc khỏe, tách nướu răng dễ dàng, lên răng nhanh chóng, rút ngắn thời gian gây đau đớn ở nướu răng. Nên cho trẻ ăn bằng thức ăn mềm, dễ nuốt, dễ tiêu như: bột, hoặc cháo loãng, đặc biệt là sữa cung cấp nhiều canxi tốt cho sự phát triển xương, răng. Vì vậy, người mẹ nên duy trì các cữ bú của bé và bổ sung thêm canxi cho bé bằng những loại thực phẩm như sữa, phô mai, sữa chua, lòng đỏ trứng, tôm, cua, cá, rau dền cơm, rau ngót, và nhiều loại trái cây tươi.
Giữ vệ sinh răng miệng tốt cho bé: Trong quá trình mọc răng, bé sẽ bị sưng, nứt nướu, bị chảy nước bọt nhiều. Cha mẹ cần chú ý giữ vệ sinh răng miệng cho bé thật tốt, thường xuyên lau sạch miệng bằng khăn mềm, cho bé uống nước lọc và làm sạch nướu sau khi cho bé bú hoặc ăn dặm.
Nên làm thường xuyên nhiều lần trong ngày.
Bé cũng có thể đi ngoài phân nhão, sệt 3 - 4 lần/ngày, trong vòng khoảng 3-5 ngày. Nếu lượng phân và lượng nước ra ít thì không cần cho uống bù nước, vẫn cho trẻ ăn uống bình thường. Nếu phân nhiều nước hoặc bé đi nhiều lần cần cho trẻ đến bác sĩ khám.
Bé có thể ngứa lợi, thích gặm nhấm ngón tay, cắn các vật rắn, rất dễ gây tổn thương và nguy hiểm hơn nếu lỡ nuốt vào. Để đảm bảo an toàn, bạn nên chọn cho trẻ loại đồ chơi bằng chất liệu mềm, có hình tròn. Tốt nhất bạn hãy thay thế đồ chơi hàng ngày của bé bằng những miếng lê, táo hay cà rốt nhỏ. Tuy nhiên cần chú ý theo dõi tránh để trẻ cắn và nuốt từng miếng có thể gây hóc, rất nguy hiểm.
Lưu ý: Nếu trẻ có biểu hiện khó chịu, quấy khóc, không chịu ăn kéo dài trong một tuần, có nguy cơ gây chậm tăng cân, sụt cân; sốt cao, nôn trớ, tiêu chảy nhiều lần,… bạn cần đưa trẻ đến cơ sở y tế khám ngay vì có thể là triệu chứng của bệnh khác.
Bác sĩ Thu Lan
Dấu hiệu trẻ bị dị ứng sữa
Dị ứng protein sữa bò (sữa công thức) là dị ứng thực phẩm phổ biến nhất trong 3 năm đầu đời của trẻ, do hệ miễn dịch của trẻ nhạy cảm quá mức với protein có trong sữa bò. Khi trẻ mắc phải tình trạng này, hệ miễn dịch nhận diện sai lầm protein trong sữa bò là một chất có hại và cố gắng bảo vệ cơ thể bằng cách “đánh lại” các chất protein này, gây ra tình trạng dị ứng và có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể như: Da, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa và toàn thân của trẻ.
Bạn có thể nhận biết trẻ bị dị ứng sữa bò với những gợi ý sau:
Những triệu chứng của tình trạng dị ứng sữa bò nói chung thường xuất hiện trong vòng 6 tháng đầu đời của trẻ và sẽ thuộc 1 trong 2 kiểu biểu hiện thông thường là “phản ứng dị ứng nhanh” hoặc “phản ứng dị ứng chậm”. Trong đó biểu hiện phản ứng dị ứng chậm là thể lâm sàng thường gặp nhất.
- Kiểu biểu hiện phản ứng dị ứng nhanh: Thường xảy ra đột ngột với các biểu hiện: Ói mửa, thở khò khè, nổi ban đỏ, mặt sưng phù, hay nặng hơn là phản ứng phản vệ toàn thân. Có những trẻ nhạy cảm với sữa đến mức chỉ dùng khăn có dính sữa lau miệng hay uống chung ly của trẻ khác có dính một ít sữa còn sót lại cũng gây nên phản ứng dị ứng.
- Biểu hiện phản ứng dị ứng chậm: Thường nhẹ, không rõ ràng. Những triệu chứng gợi ý tình trạng dị ứng có thể là trẻ hay bứt rứt khó chịu, quấy khóc thường xuyên, ói mửa, đau bụng, đi ngoài phân lỏng (có thể có ít máu trong phân), chậm tăng cân và tăng trưởng không đạt mức bình thường. Hầu hết trẻ em ở thể bệnh này sẽ hết tình trạng bất dung nạp với sữa công thức vào lúc 2 tuổi.
Khi con bạn bị dị ứng với sữa bò, bạn cần:
- Ngưng việc sử dụng sữa bò ở trẻ. Nếu trẻ bị dị ứng thuộc kiểu phản ứng dị ứng nhanh, cần chuyển sang sử dụng sữa đậu nành vì trong sữa đậu nành cũng khá đầy đủ những thành phần dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe của trẻ.
- Nếu đã chuyển sang sử dụng sữa đậu nành nhưng triệu chứng vẫn không cải thiện thì có thể hiểu rằng trẻ đồng thời cũng bị dị ứng với thành phần protein có trong sữa đậu nành. Ở thể phản ứng nhanh, chỉ có 8 - 15% số trẻ nhỏ bị dị ứng với protein của sữa đậu nành, nhưng ở thể phản ứng chậm lại chiếm tỷ lệ khá cao là khoảng 50%. Lúc này, cần phải chuyển sang sử dụng những loại thực phẩm có thành phần protein ít gây ra phản ứng dị ứng. Những loại protein này đã được xử lý đặc biệt để hạn chế tối đa việc gây dị ứng cho trẻ, tuy nhiên giá thành của những sản phẩm này thường rất đắt.
- Thời gian sử dụng sản phẩm ít gây kích ứng dị ứng nêu trên ít nhất phải là 2 tháng, cũng có khi phải kéo dài đến 12 tháng. Sau thời gian này, cần cho trẻ dùng lại sữa bò để xem trẻ có dung nạp được hay chưa, nếu vẫn còn dị ứng thì lại dùng tiếp sản phẩm thay thế và cứ mỗi 3 - 6 tháng lại cho trẻ dùng lại sữa bò để kiểm tra vấn đề dung nạp.
- Nên cho trẻ bú mẹ nếu trẻ còn nhỏ và mẹ còn khả năng tiết sữa, tuy nhiên chế độ ăn của mẹ phải được thiết lập bởi một bác sĩ chuyên về dinh dưỡng để có thể đảm bảo đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết. Cần lưu ý rằng các protein có trong sữa bò có thể đi qua sữa mẹ, vì vậy cần phải loại bỏ hết những thực phẩm có chứa sữa trong chế độ ăn của người mẹ.
Theo Chuyên gia tư vấn Kim Mai, Báo Gia đình&Xã hộ
Nhận biết, xử lý tắc tuyến lệ ở trẻ
Bệnh tắc tuyến lệ ở trẻ sơ sinh rất khó phát hiện vì bé sau sinh thường ngủ nhiều. Chỉ đến khi bé được vài ba tháng tuổi, những biểu hiện tắc tuyến lệ mới rõ ràng. Dấu hiệu nhận biết trẻ bị tắc tuyến lệ như thế nào? Câu trả lời có trong bài viết sau đây.
Nguyên nhân gây tắc tuyến lệ ở trẻ sơ sinh
Tắc tuyến lệ ở trẻ sơ sinh là khuyết tật thường gặp nhất của hệ tuyến lệ, xảy ra với 6% số trẻ sơ sinh. Nguyên nhân là do các tế bào biểu mô không tạo ra được những ống dẫn để hình thành ống mũi-lệ (ống lệ tỵ) khi đi xuống mũi. Ngoài ra, tắc tuyến lệ ở trẻ sơ sinh còn do tuyến lệ ở trẻ bị viêm nhiễm, làm cho nước mắt không lưu thông từ mắt xuống mũi của trẻ. Do đó, những giọt nước mắt được tạo ra không thể thoát ra ngoài khiến cho đôi mắt của bé bị ngập nước mắt.
Sơ đồ hệ thống tuyến lệ
Bình thường, nước mắt được tạo ra từ tuyến lệ đạo, rồi di chuyển trên mắt với sự giúp đỡ của mí mắt, giữ cho đôi mắt được bôi trơn và làm sạch. Khi cử động đôi mắt, những giọt nước mắt bị ép vào các ống dẫn ở góc bên trong của mắt, nhờ đó, nước mắt thoát ra khỏi mắt nhỏ xuống ống lệ tỵ vào phía sau của mũi. Nếu ống dẫn này bị viêm tắc hoàn toàn hoặc một phần, những giọt nước mắt không thoát ra ngoài sẽ làm xuất hiện triệu chứng tắc tuyến lệ ở các bé.
Dấu hiệu nhận biết trẻ bị tắc tuyến lệ
Dấu hiệu tắc tuyến lệ hay ống mũi-lệ bẩm sinh có thể xuất hiện từ lúc mới đẻ. Một số trẻ sơ sinh khi khóc không có nước mắt, nhưng bình thường khi trẻ không khóc có một thứ nước mắt chảy tràn ra mi rồi xuống má, đồng thời có luồng trào ngược một thứ chất nhầy được sản xuất trong túi lệ. Có thể da vùng đó nổi ban đỏ hoặc vết trợt do bị kích ứng hoặc cọ xát khi nước mắt rơi xuống. Nếu bị tắc hoàn toàn thì những dấu hiệu nói trên trở nên nghiêm trọng. Trường hợp chỉ tắc một phần thì tuyến lệ còn có khả năng để cho nước mắt cơ bản được sản xuất ra chảy xuống. Tuy vậy, vào những lúc cơ thể gia tăng sản xuất nước mắt như trời lạnh, có gió hoặc tia nắng mặt trời chiếu, khi phần cuối ống mũi-lệ bị tắc (ví dụ do phù niêm mạc mũi) thì nước mắt càng tràn ra nhiều hơn (không phải do khóc). Trẻ sơ sinh hay bị chảy nước mắt và gỉ mắt có thể là dấu hiệu của tắc tuyến lệ, vì thường thì lượng nước mắt này sẽ được di chuyển xuống các tuyến lệ thông với mũi. Nhưng khi bị tắc, nước mắt sẽ tràn xuống mí mắt dưới. Tắc tuyến lệ có thể xảy ra ở bất cứ đoạn nào trong hệ thống dẫn lưu nước mắt. Trẻ bị tắc tuyến lệ mắt lúc nào cũng ướt như vừa khóc. Đặc biệt, mỗi sáng ngủ dậy, mắt thường có nhiều gỉ vàng, dính quanh mí mắt.
Phương pháp điều trị
Nhiều trường hợp trẻ em sơ sinh bị tắc tuyến lệ thường không cần phải điều trị, vì có đến 90% tuyến lệ bị tắc có thể “tự khai thông” trở lại khi trẻ ở độ tuổi từ 1 - 2 tuổi. Tuy nhiên, với những trẻ này, cha mẹ cần biết cách làm vệ sinh mắt cho bé. Cách làm: dùng bông gòn hoặc vải xô mềm, thấm nước, tốt nhất là sử dụng nước đun sôi để nguội, để đảm bảo vô khuẩn hoặc dùng nước muối sinh lý (thuốc nhỏ mắt) NaCl9%o. Nhẹ nhàng lau mắt cho bé, lấy hết những ghèn, gỉ dính trên đôi mắt của bé. Nên thực hiện vệ sinh mắt từ 3 - 5 lần/ngày để giữ cho đôi mắt của bé luôn sạch sẽ. Chú ý phải làm thật nhẹ nhàng và cẩn thận, tránh để mi mắt bị trầy xước dẫn đến viêm nhiễm. Nếu phát hiện mắt bé bị sưng đỏ, cần đưa bé đến khám ở bác sĩ chuyên khoa mắt để được tư vấn và có liệu pháp điều trị thích hợp.
Mát-xa tuyến lệ cho trẻ: cha mẹ dùng ngón tay đã cắt móng và rửa tay sạch sẽ, mát-xa nhẹ nhàng góc mắt cho bé. Mát-xa bắt đầu từ góc trong của mí mắt rồi di chuyển (vuốt xuôi) xuống phía mũi. Nên thực hiện mát-xa từ 5 - 10 lần/ngày, mỗi lần mát-xa từ 5 - 10 phút. Tác dụng chủ yếu là: mát-xa gây áp lực nhẹ nhàng đến ống dẫn lệ, giúp thông chất lỏng khỏi những đoạn bị tắc và giải phóng điểm bít tắc.
Thông tuyến lệ: áp dụng khi đã làm những biện pháp trên không hiệu quả thì cha mẹ cần đưa bé đến khám ở bác sĩ chuyên khoa mắt để điều trị. Bác sĩ có thể cho bé sử dụng thuốc hoặc dùng biện pháp thông tuyến lệ. Phương pháp thông tuyến lệ: trước khi thông tuyến lệ, cần làm vệ sinh mắt cho bé để lấy hết ghèn gỉ. Dùng một ống nhỏ linh hoạt luồn vào bên trong tuyến lệ bị tắc để thông. Cha mẹ cần thực hiện đúng các chỉ dẫn của bác sĩ sau thông để tránh bị tắc trở lại.
Phẫu thuật mở rộng tuyến lệ: trường hợp đặc biệt, bé bị tắc tuyến lệ cần phải phẫu thuật mở rộng tuyến lệ nếu tất cả các biện pháp khác thất bại.
BS. Đặng Thị Ngọc Ba
Không nên cho trẻ ngủ với gối
Không giống như những gì chúng ta hay nghĩ, gối không phải là một vật dụng cần thiết cho trẻ sơ sinh. Thực tế, trong 2 năm đầu tiên sau sinh, bạn không nên cho con nằm gối! Những lý do sau đây sẽ thuyết phục bạn:
Cho bé kê gối không phải là việc làm thông minh. Ảnh minh họa
1. Ngạt thở
Nếu nghĩ rằng nằm trên một chiếc gối sẽ giúp con bạn ngủ tốt hơn, bạn đã sai hoàn toàn. Đầu của trẻ sơ sinh rất nhạy cảm, nó có thể chìm vào gối mềm và có thể làm tăng nguy cơ ngạt thở. Hơn nữa, mũi của bé rất nhỏ và ngắn, một phần nào đó sẽ bị đè ép bởi chiếc gối và làm hạn chế luồng không khí khi bé di chuyển đầu.
2. Tăng nguy cơ đột tử ở trẻ sơ sinh
Ngoài nghẹt thở, gối làm tăng nguy cơ đột tử bằng nhiều cách. Nếu gối được nhồi với miếng bọt biển hoặc hạt xốp, lâu ngày nó có thể bị xẹp, trở nên lỏng lẻo và dễ dẫn đến ngạt thở. Bạn có thể hạn chế sự chuyển động của bé bằng những chiếc gối hình móng ngựa.
3. Quá nóng
Gối trẻ ưa thích nhất thường có màu sắc hấp dẫn do được làm bằng sợi polyester. Điều này có thể làm tăng lượng nhiệt bên dưới đầu và dẫn đến biến động nhiệt độ trong cơ thể. Cần nhớ rằng khả năng điều nhiệt của bé không tốt như người lớn.
Đổ mồ hôi quá mức hoặc nhiệt do vỏ gối có thể dẫn đến một tình trạng gọi là tăng thân nhiệt, đây có thể là nguyên nhân gây tử vong và đe dọa tính mạng bé.
4. Bong gân cổ
Hầu hết gối trẻ sơ sinh mềm mịn và không bằng phẳng. Trên thực tế, điều này khiến bé dễ bị trặc cổ khi ngủ trong nhiều giờ.
Bé hoàn toàn có thể ngủ ngon mà không cần gối. Ảnh minh họa.
5. Hội chứng đầu phẳng
Ngủ trên một chiếc gối mềm quá lâu có thể làm phát sinh hội chứng đầu phẳng ở trẻ do áp lực không đổi. Trong khi quan trọng là phải đặt phần sau đầu xuống gối để giảm các trường hợp đột tử, điều này có thể dẫn đến biến dạng cấu trúc trong đầu khi sử dụng một chiếc gối ngủ.
Rõ ràng việc cho con bạn nằm gối chẳng mang lại một ích lợi nào, chẳng những thế mà còn có thể gây ra những điều không mong muốn. Theo khuyến cáo thì trong 2 năm đầu tiên của cuộc đời của trẻ, bạn không nên để bé nằm gối, không có gối, bé vẫn có thể ngủ ngon và hoàn toàn thoải mái.
Cẩm nang phòng tránh các tai nạn nguy hiểm đối với trẻ nhỏ
Các ông bố bà mẹ luôn ước ao vòng tay mình đủ lớn để bao bọc cho các con khi cần. Nhưng thật khó để có thể theo sát các con, giúp các con tránh khỏi những nguy hiểm rình rập.
Thậm chí, khi bạn cạnh con, những nguy cơ bất thình lình vẫn có thể ập đến khiến bạn trở tay không kịp.
Những ngày gần đây, không ít bậc phụ huynh cảm thấy vô cùng sợ hãi khi đọc những thông tin về em bé năm tuổi tử vong do bị diều cuốn. Sự việc diễn ra quá nhanh và bất ngờ khiến ngay cả những người lớn chứng kiến cũng không khỏi bàng hoàng.
Những tai nạn như vậy tuy hy hữu, nhưng nó là bài học lớn để các bậc bố mẹ có thể dạy con những kỹ năng cần thiết để bảo vệ mình trước hiểm nguy.
Hãy thử tham khảo một số nguy hiểm mà con bạn dễ gặp phải và cách phòng tránh nhé.
1. Đi lạc
Nhớ đến hai lần đi lạc của cô con gái nhỏ, chị Hoài Thương (Thanh Trì, Hà Nội) vẫn còn hú hồn.
Lần đầu tiên là lúc bé được ba tuổi. Trong khi chị đang nấu nướng trong bếp thì cô con gái chơi bên ngoài sân khu trọ với cậu bé hàng xóm, một lúc sau, chị thấy cậu bé mà không thấy con mình đâu.
Chị tá hỏa tìm kiếm con khắp xóm. Một lúc sau, trong khi đang nước mắt ngắn dài và gào khóc tìm con, chị thấy từ đằng xa, có một người phụ nữ trung tuổi bế con đi vào ngõ.
Hóa ra, cô bé đang chơi đạp xe thì thấy bố phóng xe máy đi đâu đó, vậy là cả con chị lẫn cậu bé hàng xóm ra sức đạp xe đạp theo.
Con chị đạp nhanh và phóng tít ra tận ngoài chợ, ngay đường lớn còn cậu bé hàng xóm không theo kịp đã quay trở về.
May sao, bác bán cháo bên kia đường nhìn thấy con một mình đạp xe giữa đường lớn đã bế con vào và đi tìm mẹ.
Lúc này, hai mẹ con chị chỉ biết ôm nhau khóc và cảm ơn bác hàng cháo tốt bụng.
Lần thứ hai, khoảng một năm sau đó, gia đình chị chuyển về khu chung cư mới xây.
Con gái chị, cũng như bao đứa trẻ khác, vô cùng thích thú việc đi thang máy và bấm số tầng.
Chiều đó, khi thang máy vừa mở, con gái chị chạy tót vào trong cùng với một vài người nữa.
Chị chưa kịp vào cùng thì thang máy đã đóng và đi lên. Chị hoảng hốt chạy thang bộ từng tầng xem con ra tầng nào nhưng cuối cùng không thể nào chạy kịp.
Sau đó, chị đành quay xuống tầng một và đứng chờ. Lần này cũng may sao có một cô gái thấy con khóc đã vỗ về và cùng con bấm thang máy xuống tầng một để tìm mẹ.
Trường hợp chị Hoài Thương là rất may mắn, vì con gái chị chưa đi xa và đều được sự giúp đỡ của những người tốt bụng.
Nhưng cũng từ đó, chị cũng tự nhắc nhở mình phải chỉ dẫn cho con làm thế nào để không bị lạc.
Trẻ nhỏ rất ưa khám phá, vì thế, nhiều khi chúng mải mê đến mức đi tới một nơi chưa từng đến hoặc không phải là không gian quen thuộc dẫn tới lạc lối.
Việc này rất phổ biến, ngay cả đối với các bé lớn tuổi hơn. Chị Hoài Thương đã dặn con rằng, con không được đi đâu nếu không xin phép bố mẹ, không được đi theo hoặc ăn những thứ mà người lạ mang cho.
Mỗi khi con đi ra ngoài, trừ khi ở trong khu vui chơi bố mẹ cho phép, muốn tới đâu, con cần đi sát bố mẹ để tránh bị lạc.
Ngoài ra, nếu bị lạc trên đường hay đi siêu thị, con có thể tìm những người đáng tin cậy để nhờ trợ giúp như các chú công an, bảo vệ…
Ngoài ra, chị cũng giúp con ghi nhớ số điện thoại của bố mẹ để khi cần kíp con có thể nhờ giúp đỡ.
Thường thì trong cặp sách và túi áo của con, chị Thương luôn để sẵn những mẩu giấy ghi số điện thoại của vợ chồng chị.
2. Tai nạn xe cộ
Những chuyện đơn giản như bỏng bô xe máy hay con ngủ gật nên ngã xe không hiếm.
Như bé Xoài, con gái chị Thùy Linh (La Khê, Hà Đông), khi bà nội vừa dừng xe thì ngay lập tức cô bé tụt xuống. Không may, cô bé xuống ngay phía bên có ống bô, thế là chân bị bỏng.
Cũng may là bé Xoài bị bỏng nhẹ nên sau một lúc chườm đá thì vết bỏng đỡ đau rát và cũng không để lại sẹo.
Anh Huy Thành (khu Keangnam, Hà Nội) cũng từng giật bắn mình khi con trai ngủ gật và ngã xuống đất trên đường anh chở con đi học về.
Con trai anh Thành bị gãy tay và anh thì có một bài học nhớ đời.
Tai nạn xe cộ không phải là chuyện thường ngày, bởi vậy, khi cho con ngồi trên xe, bạn cần nhắc nhở các con không nên ngọ nguậy, không nên giang tay chân, không xuống xe phía lòng đường, không xuống xe phía có ống bô, hoặc nếu xuống thì cần người lớn trợ giúp để tránh bỏng.
Ngoài ra, khi đi đường, nếu con buồn ngủ, bạn nên sử dụng địu hoặc đai an toàn.
Các bé trên ba tuổi nên sử dụng mũ bảo hiểm được thiết kế riêng cho trẻ em.
Bố mẹ cũng nên nhớ, khi cho con ngồi phía trước, phải thật cẩn thận mỗi khi đi đường vì đã có những trường hợp do phanh gấp nên đầu các bé đập vào phía trước.
3. Ngã từ trên cao xuống
Trong những năm gần đây, có rất nhiều câu chuyện thương tâm về các bé bị ngã từ trên các tòa nhà cao tầng xuống.
Trẻ nhỏ hầu như bé nào cũng hiếu động, nghịch ngợm nên bạn không những cần để ý con mà còn phải đề ra những nguyên tắc để giúp bé tránh xa nguy hiểm.
Với các gia đình ở nhà chung cư cao tầng, tốt nhất là bạn nên lắp các thanh chắn bằng sắt ở cửa sổ, lắp lưới an toàn ngoài ban công.
Bạn cũng phải nhắc nhở các con tuyệt đối không nên leo trèo cửa sổ hoặc ở khu vực ban công, cửa hành lang tòa nhà…
4. Hóc dị vật
Cũng là chuyện nhà chị Hoài Thương ở trên. Bé Su rất thích ngậm các đồ vật trong miệng.
Chị Thương không hiểu sao chị và cô giáo đều thường xuyên nhắc nhở con không ngậm dây chun, ngậm các hạt cườm nhưng con vẫn quên.
Cứ nghĩ đến câu chuyện những bé bị hóc thạch, hóc dị vật trên báo mà chị rùng mình.
Chị Thương lựa lời hỏi Su tại sao con thích ngậm thì con gái trả lời: “Tại con thích. Nó cứ chạy đi chạy lại trong miệng rất hay."
Chị đã hỏi Su: “Ngộ nhỡ nó tọt vào trong, con bị hóc không lấy ra được thì sao?."
Rồi chị cho Su thấy một số hình ảnh hoạt hình về việc hóc dị vật và bảo con rằng việc đó vô cùng nguy hiểm, nếu có vấn đề, con sẽ phải đi cấp cứu.
Từ đó, bé Su đã không còn ngậm đồ vật nữa. Chị Thương cũng lưu ý, khi cho con ăn kẹo, ăn thạch thì hướng dẫn con ăn từ từ, từng ít một để không bị hóc.
5. Tai nạn với đồ vật nhọn
Những đồ vật như dao, kéo hay những góc cạnh của bàn ghế… thường xuyên gây thương tích cho trẻ.
Thay vì bảo các con tránh xa nó, bạn hãy giúp các con cách để tránh thương tích.
Tôi dạy con gái mình sử dụng dao, kéo từ khi con lên hai hay ba tuổi, con đã sử dụng kéo một cách thành thuần thục; bốn tuổi, con có thể giúp tôi thái những loại rau quả mềm mà không hề đứt tay.
Cũng thế, tôi nhắc nhở các con khi đùa nghịch thì nên tránh xa một số chỗ để không bị thương.
6. Tai nạn với sông nước
Năm nào cũng có những trẻ bị chết đuối. Nếu có điều kiện, các bố mẹ hãy cho con học bơi từ sớm.
Học bơi không chỉ rèn luyện thể lực mà còn giúp con tránh được những tai nạn sông nước trong tình huống không may.
7. Tai nạn với các thiết bị điện
Cô bạn tôi ở Hà Tĩnh luôn tự dằn vặt bản thân, bởi chỉ một lần sơ suất, để ổ cắm ngay dưới sàn nhà, cậu con trai hai tuổi không may vấp phải mà cậu bé đã phải nằm viện điều trị cả tháng trời.
Cậu bé thứ hai nhà chị Thùy Linh (La Khê, Hà Đông) cũng một lần may mắn khi chưa kịp cho đinh vào ổ cắm điện thì mẹ phát hiện được.
Khi trẻ còn nhỏ, chưa có ý thức về mối nguy hiểm này, bạn nên bịt các ổ điện hoặc để các ổ điện ngoài tầm với của các con.
Khi con lớn một chút, bạn hãy cho bé biết các nguy cơ và không sờ vào những thiết bị này khi không được phép.
Ngoài ra những nguy cơ khác như ngã cầu thang, cháy nổ... các bố mẹ hoàn toàn có thể tìm hiểu các phương pháp giữ an toàn và dạy cho các con những kỹ năng cần thiết để đối phó nhé.
Những kỹ năng sống, sẽ giúp bé hòa nhập cuộc sống và hỗ trợ cho bé suốt cuộc đời đấy./.
Cải thiện sức khoẻ răng miệng trẻ em: Bắt đầu từ đâu?
90% trẻ 6 tuổi bị sâu răng
Kết quả nghiên cứu được báo cáo tại hội nghị do Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương TPHCM tổ chức năm 2014 cho biết: Gần 91% trẻ 6 tuổi bị sâu răng.
Tỉ lệ trẻ sâu răng quá cao được xác định do thói quen ăn nhiều chất ngọt và vệ sinh răng miệng không đúng cách. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa lại nằm ở chỗ nhiều phụ huynh vẫn giữ quan niệm sai lầm trong quá trình chăm sóc răng miệng của trẻ.
Cụ thể, 65% phụ huynh cho biết từng đưa con đi khám, chữa răng nhưng chỉ trong trường hợp răng của trẻ bị lung lay hoặc đã hỏng không thể phục hồi được.
Trong khi đó, theo WHO, sâu răng nằm trong top 3 nguy cơ hàng đầu cho sức khỏe, chỉ sau tim mạch và ung thư.
“Nhiều người nghĩ rằng bị sâu răng là đơn giản nhưng thực tế lại ảnh hưởng đến cả cơ thế. Một đứa trẻ bị sâu răng sẽ dẫn đến chứng lười ăn, suy dinh dưỡng và các bệnh tật khác…”, PGS. TS. Trịnh Đình Hải, Chủ tịch Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam, cho biết.
Sâu răng tạo ra các ổ nhiễm trùng tiềm tàng trong khoang miệng và trở thành cây cầu dẫn vi khuẩn khắp cơ thể. Sâu răng và viêm tủy răng không được điều trị sẽ bị hoại tử, biến chứng áp-xe răng, nang quanh chóp vô cùng đau đớn.
Nhiều trường hợp nhiễm trùng huyết và nghẽn mạch xoang hang ở não có nguyên nhân từ răng. Ngoài ra, nó còn dẫn đến những chứng bệnh không ngờ tới như viêm cầu thận, tiểu đường, suy giảm trí nhớ, các bệnh tim mạch và huyết áp cũng như tăng nguy cơ ung thư.Bên cạnh ảnh hưởng đến sức khỏe thì thiệt hại kinh tế do sâu răng gây ra cũng rất lớn.
Theo thống kê thì nếu phòng bệnh cho cộng đồng chỉ tốn 1.200 đồng/răng nhưng nếu để phải điều trị thì tốn từ 50.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Do đó, vấn đề ở đây là phải giúp toàn cộng đồng có ý thức phòng bệnh, giữ gìn sức khỏe răng miệng bên cạnh việc xã hội hóa nha học đường.
Chải răng buổi tối – Chìa khoá phòng sâu răng
Thứ trưởng Bộ Y tế, PGS.TS Nguyễn Viết Tiến tại Lễ Hưởng ứng ngày Răng miệng thế giới 21/3/2015 (Ảnh: P.H)
Việc phòng chống bệnh về răng miệng cho trẻ từ ban đầu vốn không khó thực hiện và để phòng bệnh răng miệng cho học sinh, từ năm 1987, Liên bộ: Bộ Y tế - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư về việc thực hiện chương trình Nha học đường và đến nay vẫn được duy trì.
“Việt Nam đang khá thành công với chương trình nha học đường và đang có kế hoạch mở rộng chương trình này hơn nữa. Hiện nay, chương trình nha học đường đã phủ kín nhiều tỉnh thành như: Nam Định, Hải Dương, Ninh Bình, Thái Nguyên, Huế, Lạng Sơn, Đà Nẵng, Tuyên Quang, chăm sóc sức khỏe răng miệng cho hàng triệu em học sinh trên cả nước”, Thứ trưởng Bộ Y tế, PGS.TS Nguyễn Viết Tiến phát biểu tại buổi lễ Hưởng ứng ngày Răng miệng Thế giới (20-3).
Tuy nhiên, việc này chỉ mang đến hiệu quả thật sự khi có sự chung tay phối hợp của “bộ 3”: gia đình - nhà trường - xã hội; nâng cao ý thức “phòng bệnh hơn chữa bệnh” không chỉ cho trẻ mà còn từ phía phụ huynh.
Cụ thể, theo nghiên cứu của Viện Răng Hàm Mặt Quốc gia, ở những nơi tổ chức tốt chương trình nha học đường, đồng thời thường xuyên thực hiện các hoạt động xã hội mang tính tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân (nhất là các bậc cha mẹ) về việc chải răng thì tỉ lệ sâu răng ở trẻ nhỏ có thể giảm 50-70% sau 6 năm.
Không cần đề cập những kiến thức khó nhớ, đơn cử như chỉ cần các bậc cha mẹ và trẻ em thực hiện đúng thông điệp: “Chải răng buổi tối vì một Việt Nam không sâu răng”, thì tỉ lệ sâu răng ở trẻ sẽ giảm đáng kể.
Đặc biệt, nếu người mẹ - người gần gũi với trẻ nhất - ghi nhớ một cách sâu sắc rằng đánh răng trước khi đi ngủ thậm chí quan trọng hơn cả đánh răng sau khi thức giấc vào buổi sáng, vì ban đêm vi khuẩn hoạt động mạnh gấp đôi ban ngày gây nguy cơ sâu răng rất cao, thì việc phòng chống sâu răng ở trẻ sẽ mang đến hiệu quả rõ rệt hơn.
Bệnh sởi và biến chứng hô hấp
Bệnh thường tự khỏi nhưng có thể xảy ra biến chứng nặng, đặc biệt là biến chứng hô hấp và hệ thần kinh trung ương.
Tổn thương hô hấp rất thường gặp trong sởi, có thể do chính virút sởi như là một phần trong nhiễm virút sởi hoặc có thể là biến chứng của bệnh chớ không phải đơn thuần do nhiễm khuẩn bệnh viện. Theo Grais và cộng sự (2007): trên 50% trẻ < 5 tuổi mắc sởi có kết hợp với nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và/hoặc tiêu chảy trong 30 ngày sau khi phát ban. Biến chứng viêm phổi có thể gặp ở 80% số trẻ mắc bệnh sởi và chiếm 20 - 100% nguyên nhân tử vong do sởi ở các nước đang phát triển.
Suy giảm miễn dịch trong sởi:
Vấn đề chính yếu trong bệnh sởi là tình trạng suy giảm miễn dịch do virút sởi gây ra, đưa đến nhiễm trùng cơ hội. Suy giảm miễn dịch một phần là do giảm tế bào lympho trong giai đoạn cấp, nhưng hầu hết do mất tế bào miễn dịch do nhiễm khuẩn và hình thành hợp bào (tế bào khổng lồ). Tình trạng ức chế miễn dịch kéo dài trong sởi được giải thích là do hiện tượng chuyển từ đáp ứng miễn dịch tế bào qua trung gian Th1 sang Th2. Suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do sởi còn tạo thuận lợi cho nhiễm lao. Tình trạng suy giảm miễn dịch còn có liên quan với suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A. Hai vấn đề thường gặp ở trẻ sởi:
- Trẻ suy dinh dưỡng có suy giảm miễn dịch dưới nhiều hình thức khác nhau, có thời gian thải virút kéo dài hơn, và tỉ lệ tử vong do sởi cao hơn.
Hình ảnh phát ban ở trẻ bị sởi
- Trẻ thiếu vitamin A trên lâm sàng hay dưới lâm sàng sẽ tăng nguy cơ tử vong do sởi.
Sởi thường kèm theo giảm nồng độ retinol/máu và có thể làm thiếu vitamin A trở nên rõ rệt. Trẻ nhập viện vì sởi ở Hoa Kỳ thường có thiếu vitamin A và những bệnh nhân này dễ bị viêm phổi, tiêu chảy sau sởi hơn. Ở quốc gia có tỉ lệ tử vong do sởi cao, điều trị vitamin A liều cao giúp giảm khoảng 50% tử vong do sởi.
Nguyên nhân nhiễm trùng thứ phát:
Do tình trạng suy giảm miễn dịch, trẻ sởi dễ bị nhiễm trùng thứ phát. Bội nhiễm có thể thứ phát sau tổn thương mô tại chổ do virút sởi và do ức chế miễn dịch. Điều cần lưu ý là ngoài các tác nhân thường gặp, trẻ sởi cũng có thể nhiễm khuẩn thứ phát với các tác nhân thường không phổ biến ở trẻ bình thường chứ không phải chỉ đơn thuần do nhiễm khuẩn bệnh viện. Biến chứng bội nhiễm vi trùng thường gặp ở trẻ nhỏ, vệ sinh kém. Các nguyên nhân gây nhiễm trùng thứ phát thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Enterobacter cloacae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumanii, Candida albicans. Suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do sởi còn tạo thuận lợi cho nhiễm lao.
Các biến chứng hô hấp:
Tổn thương đường hô hấp chính là một phần trong nhiễm virút sởi. Mức độ lan rộng của tổn thương hô hấp ở trẻ sởi không biến chứng không được biết rõ. Ngoài ra, bội nhiễm vi trùng cũng có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, có thể thứ phát sau tổn thương mô tại chổ do virút sởi và do ức chế miễn dịch.
Viêm tai giữa cấp:
Đây là một trong những biến chứng thường gặp nhất của sởi, gặp ở 7 - 9% trường hợp, nhất là ở trẻ nhỏ (có thể đến 14% ở trẻ dưới 5 tuổi). Ở trẻ nhũ nhi, tử vong do sởi, viêm phổi xảy ra trong 60% trường hợp, trong khi ở trẻ 10 - 14 tuổi, thường tử vong do biến chứng viêm não cấp. Hirfanoglu T và cộng sự (2006) ghi nhận viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất ở trẻ nhập viện vì sởi (75%), trong đó 74,6% là viêm phổi, 15,2% viêm phổi nặng, 38% viêm phổi rất nặng (theo phân loại của TCYTTG). Viêm phổi kèm theo sởi có thể do chính virút sởi hoặc do bội nhiễm vi trùng. Ngay cả trong trường hợp sởi không có biến chứng rõ ràng, cũng thường phát hiện có viêm phổi trên X-quang.
Virút sởi
Viêm phổi có thể do:
Chính một mình virút sởi.
Đồng nhiễm virút thứ phát (adenovirus, Herpes Simplex virus).
Nhiễm vi khuẩn thứ phát.
Viêm phổi kẽ tế bào khổng lồ (sởi ác tính thể phổi).
Nếu viêm phổi xảy ra sớm trong tiến trình của bệnh là dấu hiệu gợi ý tổn thương phổi tiên phát do virút hơn là bội nhiễm vi trùng thứ phát. Viêm phổi do virút sởi điển hình được đặc trưng bởi hình ảnh tăng sáng 2 bên kèm thâm nhiễm mịn lan tỏa hợp lại ở rốn phổi. Tuy nhiên, viêm phổi 1 bên, thùy hay phân thùy cũng có thể được quan sát thấy. Viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn thường xảy ra từ ngày thứ 4 sau khi phát ban. Khó phân biệt viêm phổi do tổn thương tiên phát do virút hay do bội nhiễm vi trùng. Do vậy, cần điều trị kháng sinh cho bệnh nhi viêm phổi có liên quan đến sởi. X-quang phổi có thể bình thường hay có thể có nhiều bất thường khác nhau nhưng không phải lúc nào cũng tương quan với mức độ nặng của bệnh:
Hội chứng phế quản với hình ảnh đậm cây phế quản và thâm nhiễm quanh rốn phổi.
Hội chứng mô kẽ với hình ảnh lưới nốt lan tỏa.
Thâm nhiễm nhu mô trong trường hợp bội nhiễm vi khuẩn.
Thường gặp rối loạn thông khí.
Tổn thương có thể lan tỏa dưới dạng thâm nhiễm phế nang.
Mô kẽ 2 bên. Tác nhân gây bệnh: cấy máu, chọc phổi, dịch khí quản dương tính trong 25 - 35% viêm phổi kết hợp với sởi.
Tác nhân thường gặp nhất: S. pneumoniae, S. pyogenes, S.aureus, H. influenzae. Các nguyên nhân khác cũng có thể gặp, đặc biệt trong viêm phổi nặng: Pseudomonas species, Klebsiella pneumoniae, E. coli, Acinetobacter.
Còn có thể gặp Neisseria meningitidis ở người lớn còn trẻ.
Tụ cầu phổi - màng phổi: dạng biến chứng hô hấp điển hình, nặng, xuất hiện trong giai đoạn ban bay, chủ yếu gặp ở trẻ nhũ nhi.
Yếu tố thuận lợi: tổng trạng kém, suy giảm miễn dịch do sởi. Bệnh cảnh tăng nặng nhanh với sốt cao, sốc. Triệu chứng tiêu hóa có thể nổi bật hàng đầu trong khi các dấu hiệu tại phổi kín đáo hơn. Tràn mủ - khí màng phổi thường gặp và nặng.
Viêm phổi kẽ tế bào khổng lồ (còn gọi là sởi ác tính thể phổi) thường gặp ở trẻ suy giảm miễn dịch/suy dinh dưỡng nặng nhưng cũng có thể gặp ở người lớn và trẻ em bình thường. Thường xảy ra trong giai đoạn phát ban. Bệnh nhân có thể không có phát ban. Bệnh cảnh suy hô hấp nặng, tiến triển dần đến thiếu oxy kháng trị, tiên lượng xấu. Điều trị chủ yếu là chống suy hô hấp. Vai trò của corticoid còn được bàn cãi.
Viêm phổi do sởi ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch:
Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, viêm phổi lan tỏa, tiến triển dần do sởi là nguyên nhân tử vong thường gặp nhất. Có thể có bệnh cảnh sởi điển hình với viêm phổi hay có thể có bệnh cảnh không điển hình, kèm theo viêm phổi nhưng không phát ban. Thường triệu chứng viêm phổi xuất hiện trong 2 tuần sau khi có biểu hiện khởi đầu của bệnh. Các bệnh nhân khác có thể phát ban trở lại và viêm phổi sau một khoảng thời gian dài sau sởi điển hình.
Lao phổi:
Từ lâu người ta đã biết rằng bệnh nhân lao sẽ nặng hơn nếu nhiễm sởi. Suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do sởi tạo thuận lợi cho lao: lao có thể trở nên có hoạt tính hay tăng nặng khi nhiễm sởi. Raote GJ và cộng sự (1992) ghi nhận lao trở nên có hoạt tính ở 10,66% trẻ 6 tháng - 7 tuổi nhập viện vì sởi, trong đó 4% là lao kê. IDR trở nên âm tính trong khoảng 1 tháng sau mắc sởi hoặc chủng ngừa sởi. Khuyến cáo nên trì hoãn chủng ngừa sởi ở bệnh nhân lao rõ cho đến khi đã được điều trị lao.
Các biến chứng khác:
Hiếm gặp hơn viêm tai xương chũm, áp-xe thành sau họng. Xẹp phổi, khí phế thũng, tràn khí trung thất. Một số lưu ý trên thực hành lâm sàng: Hiện Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi. Trên thực tế lâm sàng, cần lưu ý đến một số điểm sau:
Biến chứng hô hấp là thường gặp nhất ở trẻ mắc bệnh sởi, cần lưu phát hiện và điều trị sớm nhất là ở bệnh nhi nhập viện.
Sốt dai dẳng trên 5 ngày cần lưu ý đến khả năng có biến chứng, cần được tầm soát đầy đủ, đặc biệt là chụp X-quang phổi.
Thời điểm xuất hiện biến chứng gợi ý là do chính virút sởi hay do nhiễm khuẩn thứ phát tuy việc phân biệt thường khó khăn.
Điều trị hỗ trợ hô hấp thích hợp theo phác đồ.
Bổ sung vitamin A liều cao.
Trong lựa chọn kháng sinh, ngoài các tác nhân phổ biến (như: streptococcus pneumoniae, haemophilus influenza), cần đặc biệt lưu ý đến các tác nhân khác cũng thường gặp dù không hẳn là nhiễm khuẩn bệnh viện (như: staphylococcus aureus, pseudomonas aeruginosa, escherichia coli, klebsiella pneumonia, enterobacter species, acinetobacter baumanii, đặc biệt là S.aureus).
Trường hợp biến chứng hô hấp nặng, cần sớm phối hợp kháng sinh kháng tụ cầu và vi khuẩn gram âm.
Không sử dụng corticoid.
Cần lưu ý đến khả năng lao nặng hơn hoặc trở nên có hoạt tính sau khi mắc bệnh sởi.
BS. TRẦN ANH TUẤN (Khoa Hô hấp - Bệnh viện Nhi Đồng 1)


Thứ Tư, tháng 5 13, 2015
doanh nhan