Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Bé trai dậy thì muộn

Đến hẹn không gặp
Nội tiết tố nam testosterone giúp bé trai “nhổ giò” cao vọt lên, đồng thời vỡ tiếng, giọng nói không còn trong trẻo kiểu trẻ con mà trở nên ồm ồm. Cơ quan sinh dục lúc này sẽ “phóng to” cùng với sự phát triển của hệ mao. Thời điểm mới dậy thì, bộ phận sinh dục của cậu bé thường xuyên “vươn vai” đứng dậy với đủ mọi lý do: khi sợ hãi, khi thức dậy vào buổi sáng, khi thấy người đẹp… Đặc biệt, sẽ có hiện tượng phóng tinh lần đầu. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều nguyên nhân ngăn cản quá trình dậy thì suôn sẻ như: do yếu tố di truyền, suy dinh dưỡng, suy tim, bệnh thận, suyễn, suy giáp, suy tuyến sinh dục nguyên phát và thứ phát, bất thường về vị trí tinh hoàn...
Bất thường nhiễm sắc thể (hội chứng Klinefelter) cũng là một nguyên nhân đáng lưu ý. Bé trai thừa một nhiễm sắc thể giới tính X (XXY thay vì XY). Đây là rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thường gặp nhất, với tỷ lệ khoảng 1/500. Bệnh này khó phát hiện sớm vì đến tuổi dậy thì bé trai mới có những dấu hiệu bất thường, có người tới tận khi lập gia đình và bị vô sinh, đi chữa trị mới biết. Người bị bệnh này có hệ mao thưa thớt, giọng nói không trầm, vòng 1 phát triển; dương vật, tinh hoàn nhỏ hơn so với bình thường; người cao, ốm, tay chân dài.
DTM mà không điều trị, sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển về thể chất. Hệ thống nội tiết không kích hoạt quá trình phát triển của cơ quan sinh dục nam, khiến dương vật nhỏ, tinh hoàn teo - ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh, dẫn đến vô sinh nam cũng như tổng hợp testosterone của tinh hoàn. Khi bị DTM, trẻ thường tách ra khỏi tập thể, các rối loạn tâm lý xuất hiện, trẻ trở nên trầm cảm, không giao tiếp.
Giúp con
Người xưa cho rằng, nữ dậy thì năm 13 tuổi còn trai năm 16 tuổi ( nữ thập tam nam thập lục), nhưng theo BS Mai Bá Tiến Dũng - BV Bình Dân TP.HCM, 95% trẻ em trai dậy thì vào thời điểm 14 tuổi. Bé trai thường thiệt thòi hơn bé gái vì các em ngại tâm sự với mẹ về cơ thể mình. Nếu cha bé công tác xa hoặc lắm công nhiều việc thì càng mất cơ hội phát hiện DTM. Vì vậy, nếu sau 14 tuổi mà chưa có các dấu hiệu dậy thì, phụ huynh cần đưa trẻ đến khám và điều trị. BS Mai Bá Tiến Dũng cho biết: Chiến lược điều trị phụ thuộc vào chẩn đoán nguyên nhân DTM.
- Tổn thương hệ thống trục hạ đồi tuyến yên: có thể sử dụng nội tiết tố thay thế.
- Điều trị tích cực các bệnh lý mãn tính: suy tim, tiểu đường, suy giáp…
- Phẫu thuật hạ tinh hoàn ẩn: nên thực hiện khi trẻ dưới hai tuổi. Theo các thống kê, nếu chúng ta thực hiện phẫu thuật thời điểm này thì không ảnh hưởng đến hiện tượng sinh tinh và tổng hợp nội tiết.
- Hậu quả của hội chứng Klinefelter là nam giới sẽ bị vô sinh và giảm ham muốn tình dục. Bệnh này không chữa trị được, nhưng có thể giúp cho bệnh nhân trông nam tính hơn nhờ bổ sung nội tiết tố. Nếu có tinh trùng, có thể sinh con nhờ thụ tinh ống nghiệm. Tuy nhiên, cần xem xét khả năng tinh trùng mang bộ nhiễm sắc thể bất thường về số lượng.
Tầm soát dậy thì muộn
Để tầm soát DTM, cần thực hiện:
- Khám tiền sản: rất quan trọng để phát hiện những bất thường về nhiễm sắc thể và cơ quan sinh dục của thai nhi.
- Khi trẻ sinh ra: cần sự hỗ trợ của các chuyên gia y tế nhằm đánh giá những bất thường của cơ quan sinh dục ở bé trai: tinh hoàn ẩn, niệu đạo đóng thấp…
- Quá trình trẻ phát triển: cha mẹ trẻ cần quan tâm đến việc phát triển thể chất của trẻ, những biến đổi về tâm sinh lý của trẻ để cung cấp cho chuyên gia y tế những bằng chứng về quá trình phát triển của trẻ.
- Nếu sau 14 tuổi, bé trai vẫn chưa có những đặc điểm sinh dục thứ phát, cần xem là “DTM” và đưa trẻ đi khám.

Ðề phòng viêm tiểu phế quản ở trẻ nhỏ

Viêm tiểu phế quản là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do virut gây nên. Bệnh có thể gây suy hô hấp hoặc tử vong nếu phát hiện muộn. Hiện nay, do thời tiết chuyển mùa, số trẻ mắc bệnh tăng cao. Để giúp các bậc cha mẹ phát hiện sớm, đưa con đi khám và điều trị kịp thời, Báo Sức khỏe&Đời sống giới thiệu bài viết sau đây.
Nhiều trẻ bị viêm tiểu phế quản khi chuyển mùa
TS. Lê Thị Hồng Hanh - Phó trưởng Khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết: Mỗi ngày, khoa tiếp nhận 20 - 30 trẻ vào điều trị, trong đó 50-60% bị viêm tiểu phế quản. Còn tại phòng khám ngoại trú chuyên khoa hô hấp của bệnh viện, mỗi ngày cũng tiếp nhận 70 - 100 bệnh nhi nhiễm khuẩn hô hấp, trong đó 40 - 50 trẻ bị viêm tiểu phế quản. TS. Hanh nhấn mạnh: Viêm tiểu phế quản là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính các phế quản cỡ nhỏ và trung bình do virut gây nên. Bệnh xảy ra quanh năm, rất hay gặp và dễ mắc lại ở trẻ nhỏ dưới 2 tuổi. Phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời sẽ cho kết quả tốt, trái lại, chẩn đoán muộn có thể khiến bệnh tình nặng lên, gây biến chứng nguy hiểm như suy hô hấp, thậm chí là tử vong.
Tiểu phế quản bình thường (trái) và tiểu phế quản viêm (phải).
Tiểu phế quản bình thường (trái) và tiểu phế quản viêm (phải).
Viêm tiểu phế quản là gì?
Viêm tiểu phế quản là tổn thương viêm cấp tính các phế quản kích thước nhỏ, có đường kính dưới 2mm gọi là các tiểu phế quản. Thành của các tiểu phế quản này không có sụn, chỉ có cơ trơn nên dễ bị co thắt, xẹp lại khi bị viêm. Bệnh chỉ xảy ra ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, thường gặp nhất là 3 - 6 tháng tuổi. Bệnh làm cho các phế quản nhỏ bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp, thậm chí tắc nghẽn. Do đó, trẻ sẽ bị khò khè, khó thở và nặng hơn nữa trẻ sẽ bị thiếu oxy.
Tác nhân gây bệnh là virut, hay gặp nhất là virut RSV, có 2 điểm đặc biệt: một là chúng có khả năng lây lan rất mạnh nên bệnh có khả năng xảy ra thành dịch. Hai là: người lớn, trẻ lớn cũng có thể bị nhiễm RSV nhưng biểu hiện thường nhẹ, chỉ như cảm ho thông thường. Trong khi trẻ dưới 2 tuổi bị lây nhiễm có thể biểu hiện dưới dạng nặng là viêm tiểu phế quản. Bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng thường là vào mùa mưa đối với các tỉnh phía Nam và mùa lạnh ở các tỉnh phía Bắc.
Dấu hiệu trẻ bị viêm tiểu phế quản
Một trẻ bị bệnh sẽ có triệu chứng cảm trong 2 - 3 ngày đầu như sốt nhẹ, ho, sổ mũi. Sau đó, trẻ ho nhiều hơn, kèm theo khò khè, có thể bị khó thở với biểu hiện thở nhanh hơn, thở co kéo lồng ngực. Nặng hơn nữa, trẻ có thể bỏ bú, tím tái.
Thường thấy trẻ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được điều trị và chăm sóc tốt. Tuy nhiên, vẫn có 20% trường hợp bệnh kéo dài nhiều tuần lễ. Biến chứng hay gặp là suy hô hấp, viêm phổi do bị bội nhiễm vi khuẩn; xẹp phổi do tắc đờm; viêm tai giữa.
Cần chú ý các trường hợp bệnh nặng: trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non - nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ có sẵn bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch. Những trẻ này có yếu tố nguy cơ cần được cho nhập viện sớm khi bị viêm tiểu phế quản.
Nghiên cứu gần đây cho thấy: có mối liên quan giữa viêm tiểu phế quản với bệnh suyễn: sau khi bị viêm tiểu phế quản, đường thở của trẻ sẽ trở nên nhạy cảm hơn nên trẻ dễ bị diễn tiến thành suyễn sau này.
Chăm sóc và điều trị
Chăm sóc trẻ viêm tiểu phế quản: cần cho trẻ bú hay ăn uống đầy đủ. Mẹ nên cho trẻ bú thành nhiều bữa nhỏ hay cho trẻ ăn làm nhiều bữa để trẻ đỡ bị nôn ói khi ho nhiều. Chú ý cho trẻ uống nhiều nước để tránh thiếu nước bởi thiếu nước sẽ làm đờm trở nên cô đặc làm bệnh nặng hơn. Uống nhiều nước giúp loãng đàm, dịu ho. Làm thông thoáng mũi cho trẻ để giúp trẻ dễ thở và bú tốt hơn. Có thể dùng nước muối sinh lý nhỏ mũi 1-2giọt/lần, 2-3 lần/ngày. Cho trẻ uống thuốc đúng như chỉ dẫn của bác sĩ. Các dấu hiệu bệnh nặng cần đưa đi khám ngay là: trẻ tím tái, bú kém, bỏ bú, không uống được, ngủ li bì, khó đánh thức; khó thở, thở nhanh, thở co kéo lồng ngực.
Lời khuyên của bác sĩ
Viêm tiểu phế quản có thể gây tử vong cho bệnh nhi, vì vậy, việc phòng bệnh cho trẻ có ý nghĩa rất quan trọng. Cha mẹ và gia đình cần thực hiện các biện pháp đề phòng đơn giản và hiệu quả như sau: tránh cho trẻ tiếp xúc với người đang bị cảm lạnh cũng như các trẻ bệnh khác. Cần rửa tay sạch sẽ trước khi chăm sóc trẻ vì virut lây lan chủ yếu qua việc tiếp xúc trực tiếp. Cho trẻ tiêm chủng đầy đủ theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Khi trời lạnh hoặc giao mùa, cha mẹ cần giữ ấm cho trẻ, không để trẻ quá lạnh nhưng cũng không nên để quá nóng gây vã mồ hôi, chỉ nên mặc quần áo đủ ấm. Cho trẻ đeo khẩu trang khi ra ngoài, khi đi tiêm chủng. Tránh cho bé hít phải khói thuốc, khói xe, khói bếp.
ThS. Trần Minh Thanh

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

9 cách hạ sốt dân gian cho trẻ của các bà mẹ Tây

Khi bé bị sốt, các mẹ thường nghĩ ngay đến việc sử dụng thuốc hoặc đưa con tới gặp bác sĩ. Trước khi dùng tới thuốc, các mẹ hãy cố gắng hạ sốt cho trẻ bằng những liệu pháp tự nhiên. Dưới đây, xin mách chị em một vài mẹo nhỏ dân gian nước ngoài hay dùng giúp bé hạ sốt một cách hữu hiệu.
1. Dùng tất ướt quấn quanh mắt cá chân
Ý tưởng nghe có vẻ cực kì lạ lùng nhưng lại rất công hiệu kể cả với những trẻ sốt cao. Chọn 2 chiếc tất cotton đủ dài để quấn quanh mắt cá chân, nhúng vào nước lạnh rồi vắt sạch. Từ từ quấn tất quanh cổ và bàn chân bé và lặp lại mỗi khi tất hết lạnh. Em bé ban đầu có thể cảm thấy khó chịu nhưng ngay sau đó, chúng sẽ nhận thấy tác dụng giảm nhiệt cực tốt mà phương pháp này mang lại.
ha sot 1
2. Ăn một que kem
Đây là một cách hạ sốt được một số mẹ Tây áp dụng cho trẻ nhỏ và đạt hiệu quả. Khi bị sốt, con sẽ cảm thấy khô miệng, và cần bổ sung thêm chất ngọt. Kem có thể làm giảm nhiệt độ cơ thể, nó sẽ như một thức uống có cồn giúp giải tỏa mệt mỏi sau một ngày vất vả.
Tuy nhiên, cách làm này chỉ nên áp dụng như một mẹo tham khảo cho những bé lớn trên 10 tuổi và mới chớm có dấu hiệu sốt nhẹ.
3. Xoa bóp bằng dầu oliu
Đối với trẻ dưới 2 tuổi, xoa bóp toàn bộ cơ thế với dầu oliu nguyên chất trước khi đi ngủ và sau đó bọc con vào một tấm chăn hoặc bộ quần áo vải cotton mềm. Sáng hôm sau sẽ tắm cho con để rửa sạch lớp dầu oliu trên người.
4. Mát xa bằng chất nhờn của lá lô hội
Mẹ nên thoa và mát xa nhẹ trên cơ thể trẻ đang sốt bằng chất nhờn của cây lô hội, cách thức này sẽ giúp giảm sốt cho con. Bởi vì chất nhờn của cây lô hội rất mại và sẽ tạo cảm giác dễ chịu cho bé. Lô hội có thể được sử dụng để điều trị bỏng, ngứa và các vết thương nhỏ.
5. Sử dụng khoai tây
Thái khoai tây thành các lát nhỏ, ngâm vào giấm trong khoảng 10 phút. Sau đó đặt các lát khoai tây lên trán của con và đặt một chiếc khăn lên trên. Sau 20 phút, bạn sẽ thấy kết quả.
ha sot 2
6. Cho bé ăn thường xuyên hơn
Mặc dù khi ốm con thường ít có cảm giác ngon miệng, thèm ăn. Trẻ đang sốt thực sự cần nhiều nước hơn bình thường. Mất nước rất nguy hiểm trong trường hợp này. Nếu trẻ bú mẹ, bạn hãy để con tự điều tiết lượng sữa của mình nhưng cho con bú nhiều lần hơn. Với trẻ bú sữa ngoài, cho con ăn khoảng một nửa so với bình thường nhưng sẽ ăn làm 2 lần, mẹ lưu ý pha sữa với nước nguội hơn bình thường để giúp hạ cơn sốt tốt hơn.
7. Quấn bé bằng 1 chiếc khăn mát
Khi trẻ bị sốt, thân nhiệt tăng cao, nếu càng được quấn khăn, ủ ấm hay mặc quần áo dày sẽ càng khiến con khó chịu. Bé sẽ cảm thấy thoải mái và ngủ ngon hơn nếu chỉ quấn quanh bé một chiếc khăn mỏng.
Chỉ cần một chiếc khăn hoặc chăn mỏng, gấp làm đôi để tạo thành hình tam giác. Đặt em bé nằm vào phía bên trái của khăn, sau đó đặt tay trái của bé phía dưới khăn và gấp phần thừa phía bên phải khăn xuống phía dưới người con. Tiếp theo, nhét cánh tay phải của bé dưới hai lớp mềm, và gấp phần bên trái của khăn xuống dưới 2 tay của bé. Sao đó, buộc 2 phần thừa bên trái và phải vào phía trước người con, cuối cùng đem góc còn lại của khăn quấn vào chỗ nút buộc phía trước bé.
Làm theo những bước trên, cơ thể bé sẽ được bọc lại để chừa ngực, vai, và cổ. Biện pháp này giúp bé hạ sốt một cách hữu hiệu.
8. Dùng nước mát xa
Trong căn phòng có độ ấm thích hợp, mẹ chuẩn bị khăn bông và một bát nước ấm. Nếu muốn, mẹ có thể cho thêm một túi trà hoa cúc vào bát nước. Cởi bỏ quần áo của con và đặt bé vào khăn tắm.
Nhúng tay mẹ vào trong bát nước, rồi nhẹ nhàng đặt tay lên ngực bé. Xòe các ngón tay và xoa bóp dần trên toàn bộ cơ thể bé. Vuốt dọc tay, chân bé, từ ngón chân đến hông, và từ đầu ngón tay đến vai; thực hiện khoảng 3 đến 4 lần. Tiếp tục dùng tay nhúng nước trong suốt quá trình mát xa, xoa bóp nhẹ nhàng quanh bả vai sau đó trượt xuống ngực. Sự kết hợp nhẹ nhàng của nước ấm và tay mẹ sẽ làm dịu cơ thể đang nóng của bé.
9. Dùng dưa chuột thay ti giả
Dưa chuột thường được sử dụng ở các trung tâm spa như một cách để giảm viêm mô và quầng thâm quanh mắt. Ngoài ra, dưa chuột còn có tác dụng bất ngờ khi có thể làm dịu cơn sốt của bé.
Mẹ hãy chọn một quả dưa chuột non (dưa chuột non có ít hạt). Sau đó, dùng một con dao gọt dưa chuột thành hình dạng một ngón tay dày. Nhỏ ở phần đầu và to dần về đuôi. Cố gắng bỏ hết hạt hoặc chọn quả có ít hạt để khi ngậm bé không bị hóc. Giữ phần chưa nạo vỏ của dưa chuột như là thân bình sữa, đầu kia nạo vỏ sạch sẽ rồi đưa em bé ngậm. Hiệu quả làm mát của dưa chuột sẽ xuất hiện ngay lập tứ.

Giúp trẻ giảm nguy cơ cận thị

Theo các chuyên gia của Đại học Cambridge (Anh) cho biết, trẻ em có nhiều thời gian hoạt động ngoài trời sẽ giảm thiểu nguy cơ bị cận thị. Qua phân tích 8 công trình nghiên cứu đã cho thấy, cứ tăng thêm một giờ chơi ngoài trời mỗi tuần, thì nguy cơ trẻ phải đeo kính cận giảm đi 2%.
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng môi trường sống xung quanh mà chật hẹp sẽ dẫn đến chứng cận thị. Ngược lại, các hoạt động ngoài trời giúp bảo vệ trẻ khỏi ảnh hưởng không tốt này. Theo các chuyên gia nhãn khoa, ánh sáng mặt trời có khả năng giảm thiểu chứng cận thị bằng cách giúp não tiết ra một chất hóa học được cho là ngăn chặn tốc độ lão hóa của mắt. Việc tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên và dành thời gian quan sát vật thể ở xa có thể là tác nhân quan trọng nhất. Ngoài ra, có thể còn do việc chơi ngoài trời khiến trẻ ít khi phải nhìn gần, tiếp xúc với ánh sáng cực tím tự nhiên và gia tăng các hoạt động thể chất.
Giúp trẻ giảm nguy cơ cận thị
Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời giúp trẻ ngăn ngừa tật cận thị.
Chứng cận thị là do mắt phát triển quá thể. Tốc độ phát triển (hay lão hóa) của mắt sẽ gia tăng từ 15 - 20 hay 25% trong khoảng thời gian 30 năm. Cho đến nay, nhóm nghiên cứu này vẫn chưa tìm ra lời giải đáp rõ ràng cho việc làm thế nào các hoạt động ngoài trời lại có thể giúp bảo vệ mắt con người khỏi bị cận thị. Nhưng họ cho rằng bức xạ của ánh sáng mặt trời làm cho mắt không bị lão hóa nhanh chóng.
Bên cạnh đó, cận thị của đôi mắt có liên quan đến dinh dưỡng. Theo một kết quả nghiên cứu, những người bị cận thị đều thiếu 2 nguyên tố chính đó là crôm và canxi. Hai chất này ảnh hưởng đến sự điều tiết áp lực của mắt, là nguyên nhân gây ra tật cận thị.Các loại khoáng chất, vitamin A, vitamin B2 chính là những chất bổ của đôi mắt. Vitamin A giúp mắt nhìn rõ trong bóng tối. Thiếu vitamin A, mắt sẽ bị quáng gà, giảm thị lực, nhất là đối với người đọc sách, làm việc với máy vi tính nhiều. Vitamin B2 tham gia vào sự trao đổi sắc tố ở võng mạc mắt, làm cho mắt thích nghi với ánh sáng.
Vì vậy, để ngăn ngừa cận thị cho trẻ, cần áp dụng những nguyên tắc sau:
Đảm bảo đủ ánh sáng khi trẻ học trong lớp hoặc ở nhà.
Kích thước bàn, ghế phù hợp với tuổi và chiều cao của trẻ.
Duy trì cho trẻ một tư thế học tập khoa học: Ngồi thẳng lưng, đầu cúi 10 - 15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25cm.
Tập cho trẻ có chế độ nghỉ ngơi cho mắt hợp lý: Ngồi cách màn hình vi tính từ 45cm đến 60cm. Cần nghỉ ngơi 5 - 10 phút sau mỗi 30 - 40 phút học tập trên máy vi tính. Xem ti-vi hoặc chơi trò chơi điện tử không quá 2 giờ/ngày.
Cần đảm bảo ngủ 8 - 10 giờ mỗi ngày. Không nằm, quỳ để đọc hoặc viết bài. Không đọc khi đang ngồi trên ôtô, hoặc trong ánh sáng yếu. Điều quan trọng khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời giúp ngăn ngừa tật cận thị.

Bác sĩ Nguyễn Thị Hoa

Không tự ý bổ sung vitamin A cho trẻ

Thiếu vitamin A và hậu quả của nó là một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và trẻ em là những người đặc biệt dễ bị tác hại. Những yếu tố chính làm cho tình trạng thiếu vitamin A xuất hiện là: chế độ ăn nghèo vitamin A, nhiễm khuẩn (đặc biệt là sởi, bệnh hô hấp cấp) và tiêu chảy...
Vitamin A là vitamin tan trong dầu, rất cần cho thị giác, cho sự tăng trưởng và cho sự phát triển và duy trì của biểu mô, được dùng dự phòng và điều trị các triệu chứng thiếu vitamin A như bệnh khô mắt, quáng gà; bổ sung cho người bệnh xơ gan nguyên phát do mật hay gan ứ mật mạn tính, thường hay thiếu hụt vitamin A và điều trị một số bệnh về da (loét trợt, trứng cá, vẩy nến).
Không tự ý bổ sung vitamin A cho trẻ
Những thực phẩm chứa nhiều vitamin A.
Hàng năm, ở Việt Nam có chiến dịch cho trẻ em uống vitamin A trên quy mô toàn quốc để phòng chống thiếu vitamin A và bệnh khô mắt. Hoạt động phòng chống thiếu vitamin A được triển khai với các cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận dựa vào thực phẩm, bổ sung vitamin A vào thực phẩm và bổ sung vitamin A liều cao cho các đối tượng nguy cơ cao, giáo dục truyền thông về cách nuôi con theo khoa học, cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, kết hợp với các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu khác như tiêm chủng phòng sởi, chống tiêu chảy... Vì vậy, các bà mẹ cần đưa con đi uống vitamin A đầy đủ.
Tuy nhiên cần lưu ý, không được tự ý bổ sung vitamin A cho trẻ, vì khi dùng vitamin A liều cao kéo dài có thể dẫn đến ngộ độc vitamin A. Ngộ độc cấp với các dấu hiệu như: buồn ngủ, chóng mặt hoa mắt, buồn nôn, nôn, dễ bị kích thích, nhức đầu, mê sảng và co giật, tiêu chảy... Các triệu chứng xuất hiện sau khi uống từ 6 đến 24 giờ. Khi bị ngộ độc mạn người bệnh có dấu hiệu mệt mỏi, dễ bị kích thích, chán ăn, sút cân, nôn, rối loạn tiêu hóa, sốt, gan - lách to, da bị biến đổi, rụng tóc, tóc khô giòn, môi nứt nẻ và chảy máu, thiếu máu, nhức đầu, canxi huyết cao, phù nề dưới da, đau ở xương và khớp. Ở trẻ em các triệu chứng ngộ độc mạn tính còn gồm cả tăng áp lực nội sọ (thóp căng), phù gai mắt, ù tai, rối loạn thị giác, sưng đau dọc các xương dài. Khi ngừng dùng vitamin A thì các triệu chứng cũng mất dần nhưng xương có thể ngừng phát triển do các đầu xương dài đã bị cốt hóa quá sớm.
Khi có dấu hiệu ngộ độc trên cần ngừng thuốc, tiến hành điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ.

Dược sĩ Hoàng Thu Thuỷ

Thực phẩm gây bệnh dậy thì sớm ở trẻ cha mẹ cần biết

Dậy thì sớm được coi là giai đoạn phát triển sinh lý của cơ thể, thường kéo dài 3 - 5 năm. Căn cứ vào những biểu hiện bất thường ở trẻ trai trước 10 tuổi và trước 9 tuổi ở trẻ gái được coi là sớm.
Thực phẩm gây bệnh dậy thì sớm ở trẻ cha mẹ cần biết
Hiện nay, dậy thì sớm được chia thành hai loại là: Dậy thì sớm thật và dậy thìsớm giả. Dậy thì sớm thật có sự kích hoạt của não, do u não, tổn thương não, teo não, động kinh. Dậy thì sớm giả (vô căn) là những nguyên nhân không do tác động hormon sinh dục từ tuyến yên gây nên u nang buồng trứng, u tinh hoàn....
Hậu quả sớm của việc trẻ dậy thì sớm có thể dẫn tới nhiều vấn đề nghiêm trọng như: Trẻ dễ bị sốc, bị tự kỷ, trầm cảm hoặc dễ mắc sai lầm đua đòi, có nhu cầu tình dục theo bản năng chứ chưa nhận thức được nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Đặc biệt trẻ dậy thì sớm thường cơ thể sẽ nhỏ, lùn vì đầu xương sớm đóng kín quá.
Một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh dậy thì sớm này đó là do thực phẩm:
Thịt gia cầm đặc biệt là phẩn cổ
Trên thị trường bây giờ, phần lớn gia cầm được nuôi dưỡng bằng thức ăn tăng cường đẩy nhanh tốc độ phát triển, trong “thuốc giúp lớn nhanh” này chủ yếu tập trụng ở trong tuyến nội tiết của phần đầu, cổ gia cầm, vì vậy ăn cổ vịt, cổ ngỗng là một hành động ủng hộ quá trình dậy thì sớm.
Rau xanh và hoa quả trái mùa
Mùa đông có dâu tây, nho, dưa hấu, cà chua, cuối mùa xuân trước khi bày bán trên thị trường có lê, táo, cam và đào và nhiều loại hoa quả khác, tất cả những loại rau quả trái mùa đều trưởng thành nhờ sự giúp đỡ của “thuốc giúp lớn nhanh” nên mới chín sớm và bày bán trái mùa. Không nên cho trẻ dưới 5 tuổi ăn. Nếu trẻ ăn vào nhiều sẽ dễ dậy thì sớm.
Các thực phẩm rán chín trong chảo dầu mỡ
Đó là các loại thực phẩm như gà rán, khoai tây chiên… Nhiệt lượng quá cao khi vào trong cơ thể trẻ sẽ chuyển hóa thành những chất béo thừa gây rối loạn bài tiết bên trong, từ đó dẫn đến dậy thì sớm. Nếu dầu ăn sau khi được làm nóng nhiều lần, nhiệt độ cao làm cho dưỡng khí biến chất, đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến dậy thì sớm.
Ngoài ra, các trẻ em ăn fastfood trên 2 lần/tuần và thường ăn các loại thực phẩm chiên phồng thì nguy cơ dậy thì sớm cao gấp 2,5 lần so với những trẻ ăn uống bình thường, ít săn đồ ăn nhanh và đồ rán chiên.
Theo Ngôi sao

Cách xử trí và phòng ngừa chấn thương mắt ở trẻ

Sơ cứu đúng cách và kịp thời có thể tạo ra sự khác biệt đáng kể trong kết quả điều trị, gia tăng cơ hội bảo tồn thị lực.
Dấu hiệu nhận biết
Những vật thể nhỏ hay các loại dịch có thể lọt vào mắt, khiến bé cảm thấy khó chịu hoặc đau nhức. Cha mẹ nhận thấy mắt con bị đỏ hoặc bé phải nhắm nghiền mắt, không mở ra được. Tuy nhiên, không phải khi nào các bé cũng chịu khai báo với bố mẹ về sự cố ở mắt. Hãy nghĩ tới chấn thương mắt khi bé có các biểu hiện:
- Bồn chồn, bất ổn.
- Kêu đau bên trong hay xung quanh mắt.
- Nước mắt chảy giàn giụa.
- Dùng tay che một bên hoặc hai bên mắt.
- Khó cử động mắt.
- Một mắt trông khác với mắt bên kia.
- Thị lực đột nhiên giảm.
- Rách da ở mi mắt hoặc xung quanh mắt.
- Nhìn thấy máu bên trong mắt.
- Có vết bầm dập trên mắt hoặc quanh mắt.
- Nhắm ngắt quãng một bên mắt.
- Không chịu được ánh sáng chói.
Nếu nghi ngờ bé bị chấn thương mắt, bạn nên đưa con đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt hay đưa bé tới phòng khám cấp cứu gần nhất, kể cả nếu tổn thương lúc đầu trông không nghiêm trọng. Một số chấn thương mắt mức độ nặng có thể không thể hiện rõ ràng ngay từ đầu, việc xử lý chậm có thể khiến tổn thương trở nên tồi tệ hơn, gây mất thị lực vĩnh viễn.
Cách xử trí và phòng ngừa chấn thương mắt ở trẻ
Nên đưa trẻ đi khám mắt nếu thấy bé đau mắt dữ dội hoặc đau dai dẳng. (Ảnh: Nam Phương)
Phân loại chấn thương
Sau đây là một số loại chấn thương mắt thường gặp ở trẻ em:
- Dị vật trong mắt: bụi, cát, vụn gỗ, côn trùng... chui vào mắt.
- Xước giác mạc: do móng tay, vật nhọn, cành cây cào.
- Vết thương đụng dập: bóng đập vào mắt, bị đấm hay huých khuỷu tay vào mắt.
- Vết thương đâm xuyên hay chảy máu: do dụng cụ nhọn như kéo, bút chì... đâm vào.
- Bỏng hóa chất: các hóa chất gia dụng bắn vào mắt.
Xử trí
Nguyên tắc chung
- Các chấn thương nhỏ và nông thường không cần điều trị và vết thương sẽ lành sau 48 giờ. Không cho trẻ sờ mó hoặc dụi mắt, không băng ép mắt vì điều này có thể khiến tổn thương trở nên trầm trọng hơn. Nếu sau 48 giờ tình hình không cải thiện thì cần đi khám bác sĩ.
- Trường hợp vết thương đâm xuyên, không được tìm cách loại bỏ vật nhọn mắc kẹt trong mắt.
- Không bôi thuốc mỡ hay các thuốc khác vào mắt. Những thuốc này có thể không vô trùng và khiến mắt trở nên trơn trượt, gây khó khăn cho việc thăm khám của bác sĩ.
- Đưa trẻ đi khám bác sĩ mắt ngay nếu có bất kỳ lo ngại nào.
Xử trí khi trẻ có dị vật trong mắt
- Không được dụi mắt, không dùng giấy hoặc bông để lấy dị vật vì như vậy có thể khiến mắt bị nhiễm trùng, đẩy dị vật vào sâu hơn hoặc gây xước kết mạc, giác mạc.
- Chớp mắt vài lần và để nước mắt đẩy dị vật ra ngoài.
- Nếu làm như vậy chưa kết quả, bạn có thể giúp trẻ kéo mí mắt trên che trùm lên mí mắt dưới, để hàng mi dưới gạt sạch bụi bẩn ở mặt trong của mí trên.
- Đặt bé nằm ngửa và trấn an bé. Dùng các ngón tay banh rộng mắt của bé, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý hay các loại thuốc có tác dụng rửa mắt. Bạn cũng có thể nhẹ nhàng rửa mắt bị tổn thương của con bằng nước sạch đổ từ bình hay chai lọ, nước từ vòi chảy chậm hay ngâm mắt trẻ trong nước sạch. Tránh phun nước thẳng vào mặt khiến bé sợ hãi.
- Nếu bụi vẫn không ra, hãy yêu cầu trẻ nhắm mắt hoặc băng nhẹ cả hai bên để hạn chế cử động mắt, giảm thiểu chấn thương, rồi đưa trẻ đi khám bác sĩ.
Xử trí khi xước giác mạc, kết mạc
Trầy xước giác mạc, kết mạc là chấn thương phổ biến, thường do vết xước từ móng tay, cây cỏ hay đồ chơi gây ra. Xước nông ở giác mạc thường nhanh chóng tự lành. Tuy nhiên, vết xước sâu hơn có thể đi kèm nguy cơ nhiễm trùng. Nếu trẻ nhạy cảm với ánh sáng, mắt bị đỏ hoặc nhìn mờ thì cần đưa bé đi khám bác sĩ ngay.
Xử trí khi có vết thương mắt do đụng dập
Chấn thương do bóng đập vào mắt hay do bị đấm, bị hích khuỷu tay vào mắt có thể gây gây phù nề, bầm tím ở mắt hay mi mắt. Va đập dù nhẹ cũng có thể gây tổn thương đáng kể ở mắt.
Chườm lạnh ngay cho vùng mắt bị chấn thương để giảm đau và giảm phù nề, tuyệt đối không ấn mạnh lên vùng tổn thương. Không ép trực tiếp đá lạnh lên mắt vì điều này khiến vết thương trở nên trầm trọng hơn. Có thể dùng túi chườm lạnh hoặc đá bọc trong khăn và chườm 15-20 phút, nhắc lại sau mỗi 1-2 giờ. Sau 48 giờ thì xen kẽ chườm lạnh và chườm nóng.
Nếu mắt vẫn đau hay xuất hiện nhìn mờ, kể cả sau một cú đụng dập nhẹ, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay để loại trừ chấn thương bên trong mắt.
Xử trí vết thương đâm xuyên hay chảy máu
Cách xử trí và phòng ngừa chấn thương mắt ở trẻ
Dùng cốc giấy úp lên mắt bị chấn thương để bảo vệ mắt. (Ảnh: Howstuffworks)
- Không dụi mắt.
- Không rửa mắt bằng nước hoặc các dung dịch khác.
- Không tìm cách loại bỏ vật mắc kẹt trong mắt.
- Đặt trẻ nằm ngửa và trấn an trẻ.
- Lót những miếng đệm bông xung quanh mắt bị tổn thương. Đặt một chiếc cốc giấy hay cốc nhựa lên phía trên mắt, tựa trên các tấm đệm bông. Dùng băng y tế hoặc khăn sạch quấn nhẹ quanh đầu, trùm lên trên cốc. Tuyệt đối không băng ép, không đè mạnh lên cốc vì như vậy có thể gây chấn thương mắt trầm trọng.
- Không cho trẻ uống hay ăn bất kỳ thứ gì, đề phòng trường hợp cần gây mê để xử trí vết thương.
- Tránh dùng các thuốc giảm đau như aspirin hay ibuprofen vì các thuốc này có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. Hơn nữa, chứng đau liên quan tới chấn thương mắt loại này thường rất dữ dội, không thể làm dịu bằng thuốc giảm đau thông thường. Đừng trì hoãn đưa bé đi bệnh viện bằng cách chờ thuốc giảm đau phát huy tác dụng. Hãy đưa trẻ tới phòng khám mắt ngay.
Xử trí vết thương do bỏng hóa chất
Hóa chất vô tình bắn vào mắt có thể khiến mắt đỏ, đau, bỏng rát. Cần ngay lập tức rửa mắt bằng nước sạch để loại bỏ hóa chất. Với trẻ nhỏ, đặt bé nằm ngửa và trấn an bé. Dùng các ngón tay banh rộng mắt, rửa mắt liên tục trong vòng ít nhất 15 -20 phút bằng nước từ cốc, bình hay vòi nước chảy chậm. Nhắc bé đảo mắt liên tục để tăng hiệu quả rửa mắt.
Trường hợp trẻ lớn bị chấn thương một mắt, yêu cầu trẻ ngồi cúi đầu vào chậu hay bồn rửa, đầu nghiêng một bên sao cho mắt bị chấn thương nằm thấp hơn mắt lành. Dùng nước sạch rửa mắt bị chấn thương. Trường hợp cả hai mắt bị tổn thương, yêu cầu trẻ ngửa đầu ra sau, dùng nước sạch rửa cả hai mắt, đổ nước từ sống mũi xuống hai mắt.
Nếu có vòi sen, có thể để nước ấm chảy nhẹ nhàng lên vùng trán hay ngay phía trên mắt bị chấn thương, dùng các ngón tay banh rộng mắt. Không dụi mắt, không băng bó mắt hay sử dụng cốc che mắt. Gọi điện đến trung tâm chống độc xin tư vấn. Đưa bé đi khám cấp cứu, mang theo chai lọ chứa hóa chất.
Khi nào cần đi khám bác sĩ ngay:
- Đau mắt dữ dội hoặc đau dai dẳng.
- Không thể lấy dị vật ra khỏi mắt.
- Thị lực giảm.
- Chảy máu bên trong mắt.
- Đau mắt khi ra ngoài ánh sáng chói.
- Vết rách sâu quanh mắt.
Nói chung, trong những trường hợp nặng, cha mẹ không nên can thiệp nhiều mà nên đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế. Khi không biết rõ nguyên nhân gây chấn thương và băn khoăn về cách xử trí, tốt nhất nên đắp một miếng gạc vô trùng hay tấm khăn sạch lên vùng mắt bị chấn thương và đưa bé đi khám ngay.
Phòng ngừa chấn thương mắt
Đa số các chấn thương mắt có thể được phòng ngừa nếu tuân thủ các nguyên tắc an toàn:
- Chọn đồ chơi phù hợp với lứa tuổi của trẻ.
- Tránh các đồ chơi có vật nhọn như trò bắn cung tên, ném phi tiêu hoặc các đồ chơi nguy hiểm như súng bắn đạn giả.
- Theo dõi sát khi trẻ chơi các trò chơi hay đồ chơi có thể gây nguy hiểm.
- Hướng dẫn trẻ học cách sử dụng an toàn các vật dụng có thể gây nguy hiểm như bút chì, kéo, dây chun, mắc áo…
- Dùng cửa chắn an toàn ở chân cầu thang hay nơi tiếp giáp cầu thang của mỗi tầng, tránh để trẻ ngã cầu thang gây chấn thương mắt.
- Che chắn các góc nhọn của bàn, tủ.
- Khóa chặt mọi ngăn kéo và cửa tủ mà trẻ có thể với tới.
- Giữ các loại hóa chất tẩy rửa trong gia đình xa tầm với của trẻ nhỏ.
- Trong số các trẻ dưới 4 tuổi bị chó cắn, có tới 15% trường hợp bị chấn thương ở mắt. Các con chó này thường quen thân với đứa trẻ, nếu bé bị cùng một con chó cắn lần thứ hai thì chấn thương thường trầm trọng hơn lần thứ nhất. Vì vậy, sau khi trong gia đình có trẻ bị chó cắn, cần chuyển ngay chó đi nơi khác.
Bác sĩ Trần Thu Thủy

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons