This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014
Bé gái cũng mắc bệnh phụ khoa
TS-BS Lê Thị Thu Hà, Trưởng Khoa Hậu sản M, Bệnh viện (BV) Từ Dũ TP.HCM cho biết, gần đây, phòng khám BV Từ Dũ có những bé gái mới lớn, thậm chí nhiều em tuổi mẫu giáo mắc bệnh phụ khoa. Tỷ lệ này chiếm khoảng 10% tổng số phụ nữ tới khám bệnh viêm nhiễm vùng kín.
Theo TS Thu Hà, môi trường âm đạo (ÂĐ) không vô trùng, mà luôn có sự tồn tại giữa các nhóm vi khuẩn có ích và gây hại, đa số là nhóm Lactobacilli, tạo nên môi trường axít cho ÂĐ. Khi môi trường này bị mất cân bằng, lượng Lactobacilli sụt giảm và các vi khuẩn gây hại chiếm ưu thế, sẽ xảy ra sự viêm nhiễm phụ khoa.
Nguyên nhân thường gặp nhất là nhiễm trùng vi sinh từ bên ngoài, hay nhiễm giun sán từ đường tiêu hóa, hoặc do bẩm sinh truyền từ mẹ sang. Với những chị em bị bệnh phụ khoa ở tuổi trưởng thành (dù chưa quan hệ tình dục), đa số là do các tác nhân vi sinh, nấm Candida, tạp trùng và các tác nhân lây qua đường tình dục (nếu dùng chung đồ hoặc tiếp xúc với dịch tiết với người bị bệnh…).
Vậy, nhóm bệnh phụ khoa nào mà các bé gái và phụ nữ chưa quan hệ tình dục dễ mắc nhất?
Viêm âm hộ - âm đạo: Bệnh phát triển do nhiễm nấm và tạp trùng, nhiều nhất là viêm nhiễm do nấm Candida. Nguồn lây nhiễm có thể qua giấy vệ sinh, chậu rửa… Nhiều nghiên cứu cho thấy, những phụ nữ phải dùng thuốc kháng sinh kéo dài, mặc quần áo chật, không thích hợp, trong môi trường nóng ẩm, hoặc bị rối loạn do mắc bệnh tiểu đường, thiếu máu mãn tính có nguy cơ bị mắc nấm Candida cao.
Tuy nhiên, việc bị viêm ÂĐ hay không còn phụ thuộc vào môi trường ÂĐ của từng người. Khi bị nhiễm loại nấm này, bệnh nhân sẽ thấy ngứa ÂĐ, khí hư lỏng, thậm chí vón cục như váng sữa, ÂĐ bị viêm đỏ, ngứa rát. Để chẩn đoán nhiễm nấm Candida, ngoài khám lâm sàng, bác sĩ còn phải dựa vào xét nghiệm mẫu bệnh phẩm, các mảng bám… Bệnh này rất dễ tái phát nếu bệnh nhân không tuân thủ điều trị theo đúng chỉ định của bác sĩ. Tùy vào từng độ tuổi, hoàn cảnh, bác sĩ sẽ cho loại thuốc phù hợp.
Viêm nhiễm phụ khoa do tạp trùng: Là loại viêm do tạp khuẩn, khi sự cân bằng bình thường của vi khuẩn trong ÂĐ bị phá vỡ và có một số sự tăng sinh của các vi khuẩn có hại. Với những phụ nữ có quan hệ tình dục thì nguyên nhân bị viêm nhiễm ÂĐ do tạp trùng có thể do các biện pháp vệ sinh không đúng như thụt rửa ÂĐ hoặc quan hệ tình dục không được bảo vệ. Với phụ nữ chưa quan hệ tình dục, nguyên nhân viêm nhiễm ÂĐ do tạp trùng nhiều khi rất đơn giản, chẳng hạn do rửa nước vệ sinh phụ nữ quá nhiều, dẫn tới tiêu diệt luôn những vi khuẩn có lợi trong ÂĐ, khiến môi trường ÂĐ bị mất cân bằng… Dấu hiệu khi bị viêm nhiễm ÂĐ do tạp trùng thường là dịch tiết ÂĐ bất thường, có mùi khó chịu, hoặc bệnh nhân cảm thấy ngứa, ÂĐ bị kích thích.
Nếu bệnh nhiễm khuẩn ÂĐ không được điều trị, bệnh nhân có nguy cơ mắc các bệnh khác của đường sinh dục cao hơn như bệnh viêm vùng chậu do Chlamydia hoặc bệnh lậu. Nhiễm khuẩn ÂĐ còn liên quan đến quá trình chuyển dạ và sinh non ở phụ nữ mang thai và sinh con nhẹ cân ở trẻ sơ sinh.
Điều trị bệnh nhiễm khuẩn ÂĐ hay viêm nhiễm ÂĐ do tạp trùng không khó, chỉ cần bệnh nhân đi khám và tuân thủ uống thuốc.
Viêm nhiễm do ký sinh trùng: Viêm phụ khoa do ký sinh trùng đường ruột như giun sán thường gặp ở các bé gái. Chẳng hạn, khi bị nhiễm giun kim, trẻ thường ngứa ngáy, hay gãi. Đồng thời, giun kim rất hay chui từ hậu môn lên ÂĐ gây viêm nhiễm. Với các trường hợp này, cha mẹ tuyệt đối không tự ý điều trị cho bé mà hãy đưa đi khám để bác sĩ cho thuốc bôi và uống thuốc tẩy giun.
BS Lê Thị Thu Hà cảnh báo, tình trạng viêm nhiễm vùng kín lâu ngày không được chữa trị thích hợp có thể lan từ âm hộ - ÂĐ đến cổ tử cung, niêm mạc tử cung, hai ống dẫn trứng, buồng trứng, dẫn tới nguy cơ vô sinh. Chính vì thế, các chị em dù chưa có gia đình nhưng thấy các dấu hiệu ra nhiều khí hư, ngứa, rát bất thường ở vùng kín, khí hư có mùi hôi, màu sắc khác thường, tiểu gắt, đau bụng dưới thì phải đi khám ngay.
Viêm nhiễm ÂĐ không khó chữa, nhưng nếu để lâu ngày, bệnh sẽ biến chứng phức tạp, dẫn tới hậu quả khôn lường.
Theo Báo Phụ nữ
Giảm cân cho trẻ béo phì, cách gì?
Đó là sức ép về tâm lý khi bị bạn bè chế giễu. Ðiều quan trọng hơn là những đứa trẻ béo phì có khuynh hướng lớn lên sẽ trở thành những người béo mập có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch, tăng huyết áp và rối loạn phát triển vềxương khớp...
Trẻ bị thừa cân béo phì, do đâu?
Một đứa trẻ được xem là béo phì, hay nặng cân quá khi nó nặng hơn mức trung bình so với chiều cao và độ tuổi từ 20% trở lên. Cách tốt nhất để xem trẻ có béo phì hay không là nhìn hai cánh tay và bắp đùi đứa trẻ: Nếu có những cuốn mỡ ngấn lên thì khả năng đứa trẻ là béo phì. Nhưng béo phì không đơn thuần như vậy. Béo phì là một bệnh phức tạp. Trẻ bị thừa cânbéo phì là do chế độ ăn giàu năng lượng có nghĩa là năng lượng đưa vào cơ thể vượt quá năng lượng tiêu hao, nhất là năng lượng từ chất béo, tuy nhiên, ăn nhiều chất đạm, bột đường cũng bị thừa cân béo phì vì các chất này khi vào cơ thể dư thừa đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ. Trong trường hợp trẻ ít hoạt động thể lực là yếu tố song hành, nguy cơ cao gâythừa cân béo phì. Trẻ thường dành thời gian cho hoạt động tĩnh tại như xem tivi, đọc truyện, chơi điện tử... mà ít luyện tập thể dục thể thao. Một số nghiên cứu cho thấy, ở những trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, trẻ nhẹ cân hoặc cân nặng lúc sinh quá cao... lớn lên dễ bị thừa cân béo phì. Các nhà nghiên cứu khoa học cũng cho biết, yếu tố di truyền về thừa cân béo phì thì chưa được chứng minh đầy đủ, tuy nhiên, trong gia đình cha mẹ bị thừa cân béo phì thì con cái có nguy cơ bị thừa cân béo phì.
Không cho trẻ ăn quá no, hạn chế cho trẻ ăn các thực phẩm như bánh kẹo ngọt, đồ chiên xào, nước ngọt có ga...
Thừa cân béo phì ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ như thế nào?
Đây là một vấn đề đáng phải quan tâm. Béo phì ở trẻ em là yếu tố nguy cơ béo phì ở người lớn. Những người lớn bị béo phì nặng thường có tiền sử béo phì ở tuổi thiếu niên. Béo phì ở trẻ em ảnh hưởng đến sức khỏe khi trưởng thành. Vì ở người béo phì có nguy cơ mắc các bệnh tăng huyết áp, tăng cholesterol dẫn đến tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim... và có nguy cơ mắc các bệnh lý khác như bệnh đái tháo đường, bệnh sỏi mật, cơ xương khớp... Bên cạnh đó, trẻ béo phì thường vụng về, chậm chạp, hay bị bạn bè trêu chọc ảnh hưởng đến tâm lý và khả năng học tập. Hơn nữa, việc điều trị những bệnh này lại góp phần làm tăng cân hoặc hạn chế hoạt động như vậy càng làm béo hơn. Vì thế, can thiệp sớm là việc làm cần thiết để ngăn ngừa các biến chứng này.
Giảm cân cho trẻ bị thừa cân béo phì
Điều cần thiết là phải điều chỉnh chế độ ăn hợp lý. Nguyên tắc chính để điều trị thừa cân béo phì ở trẻ em là điều chỉnh chế độ ăn kết hợp với hoạt động thể lực. Nên hạn chế các loại bánh kẹo, đường, mật, sữa đặc có đường, sữa béo nhưng có thể uống sữa gầy (sữa bột tách bơ). Khi chế biến thức ăn nên làm các món hấp, luộc, hạn chế món quay, xào, rán. Ăn nhiều rau xanh, hoa quả ít ngọt. Cần có chế độ ăn điều độ, không ăn quá no, không được bỏ bữa, không để trẻ quá đói, ăn nhiều vào buổi sáng, không nên ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ. Đồng thời, cha mẹ cần khuyến khích trẻ tham gia các môn thể dục thể thao như chạy, bơi, nhảy dây, đi bộ... hạn chế xem tivi, chơi điện tử. Cần lưu ý, thường xuyên theo dõi cân nặng, chiều cao, khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ và thời gian hoạt động của trẻ.
Trẻ béo phì cần tham gia các hoạt động thể lực.
Cách phòng chống thừa cân béo phì cho trẻ
Dự phòng thừa cân béo phì chủ yếu là dinh dưỡng hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực. Cần có ý thức chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ từ trong bào thai bằng cách chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ khi mang thai. Khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung cần có khẩu phần ăn hợp lý đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm (chất bột đường, chất đạm, chất béo và chất xơ, vitamin, khoáng chất). Không ép trẻ ăn quá mức nhu cầu trẻ có thể ăn được. Đối với trẻ lớn và vị thành niên nên ăn uống hợp lý, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng để trẻ phát triển bình thường, đồng thời khuyến khích trẻ ăn rau quả, hạn chế sử dụng thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng và đồ uống nhiều đường. Ở lứa tuổi này nên tăng cường vận động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp theo lứa tuổi như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội... hạn chế xem tivi, chơi điện tử và thức quá khuya. Ngoài ra, cần theo dõi tăng trưởng của trẻ ở mọi lứa tuổi qua chỉ số cân nặng chiều cao nhằm phát hiện sớmthừa cân béo phì để kịp thời điều chỉnh chế độ ăn và sinh hoạt của trẻ.
Thông thường, trẻ béo phì hay bị bạn cùng lứa trêu chọc. Vì thế, bố mẹ cần động viên con và tránh phê phán con, tạo tâm lý không tốt. Bố mẹ đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp trẻ béo phì cảm thấy bình thường, có ý thức kiểm soát cân nặng và phát triển thói quen lành mạnh để sống khỏe mạnh. Cảm xúc của trẻ cũng là điểm chính trong điều trị thành công béo phì.
Bạn luôn nhớ rằng, cần đưa con đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt nếu bạn nghĩ rằng con mình có vấn đề về mặt cân nặng. Trong những trường hợp hiếm hoi, chứng béo phì bắt nguồn từ một tình trạng rối loạn nội tiết, bác sĩ sẽ giới thiệu con bạn đến nhà chuyên khoa nội tiết để kiểm tra. Trong trường hợp nghi ngờ là do căn bệnh nào, bác sĩ sẽ có khuyến cáo về chế độ ăn. Ðồng thời khuyên bạn những giải pháp để khuyến khích đứa trẻ tiêu hao nhiều năng lượng hơn.
BS. Hạnh Nguyễn
Cho bé ăn rau cần những quy tắc nào?
- Khi đến tuổi ăn dặm rau, củ, quả là một trong những thực phẩm không thể thiếu bổ sung chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ. Các loại vitamin và chất xơ giàu năng lượng có trong các loại rau củ giúp đẩy nhanh quá trình trao đổi chất ở bé và cải thiện hệ tiêu hóa cho bé yêu.Tuy nhiên nếu chế biến và cho con ăn rau củ không đúng cách không những không hấp thụ được chất dinh dưỡng từ rau củ mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bé nữa. Xin mách các mẹ 7 điều cần lưu ý khi chế biếnrau củ cho con.Phải rửa rau thật kỹ
Với nỗi lo thực phẩm ngày nay đầy chất hóa học độc hại không ít các bà mẹ lựa chọn mua rau củ trong siêu thị hay các cửa hàng rau siêu sạch trên thị trường. Tuy nhiên mặc dù được gán mác rau siêu sạch thì ở đó vẫn có rất nhiều chất bẩn và vi khuẩn hơn mẹ nghĩ và có thể nhìn thấy.
Vì thế khi mua rau về mẹ vẫn nên lưu ý khâu rửa rau thật sạch. Tốt nhất mẹ nên ngâm rau trong nước 20-30 phút cho hết hoàn toàn thuốc trừ sâu, rồi rửa lại bằng nước sạch 2-3 lần, kết thúc ngâm trong hỗn hợp nước muối nhạt từ 10-15 phút để rau được khử trùng hoàn toàn.
Nên cho con ăn nhiều loại rau có lá
Trẻ con có xu hướng thích ăn các loại củ quả hơn là các loại rau có lá xanh. Tuy nhiên mẹ cần nhớ trong các loại rau lá xanh có chứa nhiều loại vitamin hơn trong củ quả. Vì thế mẹ hãy chế biến các món từ rau lá xanh thật phong phú, hấp dẫn, kết hợp màu sắc ngon mắt thì chắc chắn bé sẽ ăn thun thút ngay.
Bố mẹ cũng cần ăn rau xanh
Trẻ con sẽ không chịu ăn rau nếu nhìn thấy bố mẹ cũng không ăn. Rất nhiều người lớn có thói quen chỉ ăn cơm, thịt và rau ăn rất ít nhưng lại ép trẻ ăn thật nhiều chất xơ. Điều này là không công bằng và bé sẽ không có được chút hứng thú nào với các loại rau củ khi chứng kiến bố mẹ mình cũng không thích ăn loại thực phẩm này.
Tuyệt đối đừng ép bé ăn quá mức
Nếu bé không thích ăn rau xanh hay bất cứ một loại thực phẩm nào khác, mẹ cũng đừng vì thế mà ép con ăn quá mức. Ăn uống do ép buộc sẽ khiến trẻ hấp thụ được ít chất dinh dưỡng hơn và càng tăng cảm giác biếng ăn ở trẻ. Thay vào chiêu áp bức, ép buộc mẹ hãy tìm cách ngon ngọt dỗ dành và dụ dỗ cho bé ăn rau thì tốt hơn.
Trái cây không thay thế được rau củ
Nhiều mẹ có quan điểm sai lầm khi nghĩ con không thích ăn rau cũng không sao, có thể cho bé ăn bù bằng nhiều loại trái cây khác. Nhưng điều này là hoàn toàn không đúng. Ở rau xanh có chất xơ và các loại vitamin mà ở hoa quả không đủ để thay thế. Hãy lựa chọn hoa quả như một thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng bên cạnh rau xanh bổ dưỡng các mẹ nhé.
Sử dụng nồi nhôm hoặc inox để chế biến rau
Các mẹ hãy sử dụng nồi nhôm hoặc inox để chế biến rau cho bé, nhất là để luộc rau, tránh không sử dụng các loại nồi đồng. Chúng ta biết rằng, trong các món ăn cũng như rau đều có chứa một lượng axit nhất định. Lượng axit này sau khi ngâm trong nồi sẽ làm thôi ra một lượng kim loại hoặc làm oxy hóa lớp bề mặt vật đựng bằng kim loại. Mặc dù nồng độ cũng như hàm lượng kim loại bị thôi nhiễm không nhiều, tuy nhiên điều này cũng hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe của bé.
Một thói quen khác rất không tốt của các mẹ khi chế biến các món rau là cứ để rau trong nồi và đậy vung một lúc cho rau mềm. Làm thế không những mất chất dinh dưỡng của rau mà những chất không tốt từ nồi có thể ngấm vào nước và rau đấy mẹ nhé.
Không lưu trữ các loại rau đã chế biến quá lâu
Các mẹ tuyệt đối không nên tái chế các món rau lưu trữ nhé. Nếu thức ăn thừa, đặc biệt là các loại rau xanh được lưu trữ quá lâu, sẽ sản xuất một lượng lớn nitrit có khả năng gây ra ngộ độc thực phẩm đặc biệt đối với những bé có cơ thể yếu và nhạy cảm.
Rau xanh và các loại củ quả là một trong những thực phẩm quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe của mỗi người. Vì thế các mẹ hãy chú ý để con yêu được hấp thụ chất dinh dưỡng từ rau xanh một cách tối đa và lớn khỏe mỗi ngày nhé.
Chớ xem thường khi trẻ bị lé
Nguyên nhân gây lé
Nguyên nhân lé mắt ở trẻ em là do sự bất thường hoạt động giữa thần kinh trên não và các cơ quanh mắt. Nếu cơ này hoạt động không đều nhau, một cơ yếu hay cơ khác mạnh hơn, sẽ làm hai mắt nhìn theo hai hướng khác nhau.
TS.BS Nguyễn Thị Xuân Hồng cho biết, lé có hại loại: Lé bẩm sinh và lé do nguyên nhân nào đó (mắc phải, hay hậu đắc).
Lé bẩm sinh xảy ra ở trẻ dưới sáu tháng tuổi, một số bé khi sinh ngạt hay sinh khó cũng bị lé.
Tật lé ở trẻ em cần được đưa đi khám và điều trị để tránh nguy cơ giảm hoặc mất thị lực cho trẻ. Ảnh internet
Lé mắc phải là do các bệnh lý tai mắt như đục thủy tinh thể, cườm nước (glaucoma), tật khúc xạ, ung thư... Người lớn bị lé thường do các nguyên nhân như liệt thần kinh do nhiễm siêu vi, các u não chèn ép, bệnh lý mạch máu như cao huyết áp, tiểu đường.
Lé mắt chia làm ba nhóm: nhóm lé ngang (lé trong, lé ngoài), lé đứng (đứng trên, đứng dưới), lé xoáy (xoáy trong, xoáy ngoài). Độ viễn thị cao sẽ gây lé trong, độ cận thị cao sẽ gây lé ngoài. Ngoài ra còn có các dạng kết hợp giữa ba nhóm lé trên.
Bên cạnh đó còn có trường hợp lé giả. Có hai nguyên nhân gây nên lé giả. Thứ nhất do góc nhìn lệch trục với cơ thể học của mắt nên nhìn giống như mắt bị lé, nhưng đó là tình trạng sinh lý bình thường của mắt. Thứ hai do cấu tạo khuôn mặt ở người Châu Á thường có mũi tẹt và mắt một mí nên ở một số người, nếp mí góc trong hạ xuống che bớt tròng trắng mắt trong gây cảm tưởng mắt lé trong.
Một trường hợp bị lé trong. Ảnh internet
Tác hại
Lé mắt có tác hại nhiều mặt như: chức năng thị giác, tâm lý và thẩm mỹ.
Về chức năng thị giác sẽ ảnh hưởng đến thị lực (mắt lé thường xuyên sẽ dẫn đến giảm thị lực và gây mù mắt), ảnh hưởng hợp thị hai mắt ( không phân định được khoảng cách, không nhìn được hình nổi).
Về mặt tâm lý, các bé bị lé thường bị có mặc cảm do hay bị mọi người chọc ghẹo. Vì vậy, các trẻ bị lé thường thiếu tự tin, sống khép mình. Nếu điều này xảy ra trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến phát triển tâm lý của trẻ. Bé nào thuộc tuýp thần kinh yếu sẽ càng thu minh lại, ngược lại bé thuộc túyp thần kinh mạnh sẽ hung bạo hơn.
Điều trị
Kết quả điều trị lé mắt hiện nay rất khả quan, khoảng 90% trường hợp hết lé hoàn toàn sau điều trị. 10% còn lại không khỏi hoàn toàn là do có những bất thường cả về thần kinh và sọ mặt.
Bác sĩ Nguyễn Chí Trung Thế Truyền- BV Mắt TP.HCM cho biết: trẻ bị lé dưới 2 tuổi khả năng phục hồi thị lực sau điều trị là 100%, còn sau 2 tuổi thì chỉ phục hồi về mặt thẩm mỹ, còn thị lực là không thể có 100% . Vì vậy, BS Truyền khuyên: “Nếu có lé bắt buộc phải điều trị, không bao giờ tự hết được. Phụ huynh không nên tự điều trị theo cách dân gian”. BS Truyền còn cho biết thêm, thông thường trẻ dưới sáu tháng tuổi do hệ thống cơ vận nhãn và thần kinh điều khiển chưa ổn định nên nếu có lé thì chưa có giá trị chẩn đoán. Nhưng nếu bé trên sáu tháng tuổi mà thấy bé có lé thì phải đưa bé đi khám ngay.
Theo TS.BS Nguyễn Thị Xuân Hồng, tùy từng nguyên nhân gây lé sẽ có phương pháp điều trị thích hợp. Nếu lé bẩm sinh, bất thường cơ thì cần phải phẫu thuật. Lé do viêm nhiễm cần điều trị thuốc. Còn lé do nguyên nhân tật khúc xạ có thể đeo kính và chỉnh hết lé. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp lé do tật khúc xạ cần phải phẫu thuật.
Phẫu thuật lé là làm mạnh cơ bị yếu hoặc làm yếu cơ quá mạnh. Phẫu thuật lé có hai hình thức: gây mê toàn thân nếu trẻ nhỏ dưới 10 – 12 tuổi và tiêm tại chỗ. Gây mê phải nằm viện khoảng 3 ngày, còn gây tê tại chỗ thì về trong ngày. Phẫu thuật lé không có biến chứng nguy hiểm. Sau mổ, mắt chỉ đỏ, vết mổ lành sau 1 tuần. Bệnh nhân sinh hoạt và ăn uống bình thường.
Tật lé có thể bị tái lại nếu tinh thần căng thẳng kéo dài hoặc độ khúc xạ thay đổi mà không điều chỉnh kính đúng. Do vậy, nên đưa trẻ đến tái khám ở chuyên khoa mắt nhi tối thiểu mỗi năm một lần để được can thiệp kịp thời.
Hỏi đáp về bệnh sởi và bệnh Rubella
LTS: Nhằm cung cấp những thông tin cập nhật đầy đủ về bệnh sởi, Rubella, các biện pháp phòng bệnh cũng như những điều cần biết về vắc-xin phối hợp sởi - Rubella trong Chiến dịch tiêm vắc-xin sởi - Rubella cho trẻ 1 - 14 tuổi trên toàn quốc; Dự án Tiêm chủng mở rộng - Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã biên soạn cuốn “Hỏi đáp về bệnh sởi và bệnh Rubella”. Báo SK&ĐS xin cung cấp tới độc giả nội dung cuốn sổ tay hỏi đáp, hy vọng sẽ giải đáp những thắc mắc, tư vấn cho cha mẹ và cộng đồng những thông tin hữu ích trong quá trình triển khai vắc-xin này.
Tiêm vắc-xin Rubella là biện pháp hiệu quả để phòng bệnh.
1. Bệnh Rubella là bệnh gì?
Bệnh Rubella là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut Rubella gây ra. Phần lớn bệnh thường ở mức độ nhẹ, thường gặp ở trẻ em và thanh niên. Bệnh Rubella gây tác hại nguy hiểm đến sức khỏe của bà mẹ cũng như thai nhi nếu bà mẹ bị nhiễm virut trong thời kỳ mang thai.
2. Bệnh Rubella lây truyền qua đường nào?
Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do ho, hắt hơi, tiếp xúc gần với người bị nhiễm hoặc dịch tiết mũi họng. Giai đoạn lây nhiễm xảy ra từ 7 ngày trước cho đến 7 ngày sau khi phát ban. Cũng như sởi, virut Rubella có khả năng lây lan cao nên có thể gây dịch lớn cho những cộng đồng không có miễn dịch với virut Rubella.
3. Có trường hợp người lành mang virut Rubella không?
• Khi bị nhiễm virut Rubella sẽ mắc bệnh Rubella nếu chưa có miễn dịch với virut Rubella. Không có trường hợp người lành mang virut.
• Những người đã có miễn dịch với virut Rubella (do đã từng mắc bệnh Rubella hoặc đã tiêm vắc-xin Rubella trước đó) hầu hết không bị mắc bệnh nữa.
4. Những ai có nguy cơ mắc bệnh Rubella?
• Tất cả những người chưa có miễn dịch với Rubella đều có nguy cơ mắc bệnh. Sống ở nơi đông dân cư là yếu tố thuận lợi làm tăng nguy cơ mắc loại bệnh lây lan theo đường hô hấp này.
• Tại Việt Nam, nhóm người có nguy cơ mắc Rubella cao là trẻ em, thiếu niên và thanh niên. Do vậy, các nhóm đối tượng này cần được tiêm chủng vắc-xin Rubella để phòng bệnh.
5. Bệnh Rubella có biểu hiện như thế nào?
Bệnh thường có biểu hiện lâm sàng nhẹ. Biểu hiện của bệnh bao gồm: sốt nhẹ, phát ban và viêm long nhẹ đường hô hấp, nổi hạch vùng chẩm, sau tai và cổ. Ở người lớn có thể có sưng đau khớp. Tuy nhiên, có tới 50% số trường hợp có biểu hiện lâm sàng không điển hình làm cho bệnh nhân dễ bị nhầm tưởng là bệnh khác.
6. Tại sao bệnh đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ có thai?
Bệnh Rubella rất nguy hiểm đối với phụ nữ có thai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ là giai đoạn hình thành các bộ phận của thai nhi. Virut có thể qua hàng rào nhau thai, xâm nhập vào bào thai và tác động tới quá trình phát triển của bào thai. Có khoảng một nửa số trường hợp mắc bệnh không có dấu hiệu lâm sàng điển hình nên nhiều phụ nữ có thai mắc Rubella không được phát hiện, gây ra nhiều hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với người mẹ và thai nhi.
• Nhiễm Rubella trong thời kỳ đầu khi mang thai có thể gây ra sẩy thai, thai chết lưu hoặc đẻ non. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ này có nguy cơ cao mắc hội chứng Rubella bẩm sinh với nhiều dị tật nghiêm trọng như dị tật tim, điếc, đục thủy tinh thể, chậm phát triển... Ngoài ra, trẻ có thể mắc đái tháo đường, vàng da, xuất huyết, xương thủy tinh, viêm não màng não, viêm phổi, nhẹ cân, sinh non... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe giống nòi. Một số trường hợp trẻ tử vong do hậu quả của hội chứng Rubella bẩm sinh.
• Hội chứng Rubella bẩm sinh có thể gặp ở 70 - 90% trẻ sinh ra từ bà mẹ bị nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu mang thai.
• Một số dị tật bẩm sinh do virut Rubella gây ra: dị tật tim bẩm sinh; viêm não; ban xuất huyết; giảm thính lực; tật đầu nhỏ; dị tật ở mắt: đục thủy tinh thể, glô-côm, rung giật nhãn cầu, nhãn cầu nhỏ...
7. Tình hình bệnh Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh ở Việt Nam như thế nào?
• Năm 2011, trên toàn quốc ghi nhận trên 7.200 ca mắc Rubella tại 59 tỉnh/thành phố, tập trung ở nhóm trẻ em, thanh niên và phụ nữ tuổi sinh đẻ. Trên thực tế, số mắc này còn cao hơn nhiều lần do nhiều trường hợp có biểu hiện nhẹ không đến cơ sở y tế.
• Trong các năm 2011 - 2012, tại các bệnh viện: Nhi Trung ương, Nhi đồng 1, Nhi đồng 2 đã ghi nhận hơn 300 ca mắc hội chứng Rubella bẩm sinh với các dị tật bẩm sinh. Trong đó 90% mắc tim bẩm sinh với các dị tật phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của trẻ, 45,3% đục thủy tinh thể; 37,7% lách to; 15,3% vàng da nhân; 11,3% trẻ có kích thước đầu nhỏ; 12,3% chậm phát triển; 3,7% có các tổn thương não phức tạp (bại não, xuất hiện giãn não thất, xuất huyết não); 1% viêm não màng não và các hậu quả khác như nhẹ cân khi sinh (73,2%), đẻ non (33,5%), suy dinh dưỡng bào thai, tổn thương gan. Hơn 80% các trường hợp này mắc từ 2 dị tật trở lên.
• Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam có từ 1.267 - 6.145 ca mắc hội chứng Rubella bẩm sinh.
Một số dị tật bẩm sinh do virut Rubella gây ra.
8. Cần làm gì khi bị nghi nhiễm Rubella?
• Khi bị nghi nhiễm Rubella cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán. Đối với trường hợp bệnh nặng lên hoặc có dấu hiệu biến chứng phải điều trị và cách ly tại bệnh viện.
• Cách ly bệnh nhân trong vòng 7 ngày kể từ khi phát ban. Trường hợp bệnh nhẹ cách ly tại hộ gia đình (nghỉ học, nghỉ làm, không tham gia các hoạt động tập thể, tập trung đông người) để tránh lây nhiễm cho những người xung quanh. Trong thời gian cách ly, bệnh nhân phải đeo khẩu trang y tế. Tẩy trùng, thông thoáng nơi ở, làm việc. Sử dụng biện pháp bảo vệ cá nhân như dùng khẩu trang, hóa chất sát trùng...
9. Làm thế nào để phòng bệnh Rubella?
Bệnh Rubella là bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên chủ động tiêm vắc-xin Rubella là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh.
10. Làm thế nào để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh?
• Tiêm vắc-xin Rubella là biện pháp hiệu quả nhất để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh.
• Phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần hạn chế tiếp xúc với các bệnh nhân có sốt, phát ban và trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh.
• Phụ nữ có thai, đặc biệt có thai trong những tháng đầu nếu bị sốt, phát ban nên đến các cơ sở y tế để được khám, xét nghiệm, chẩn đoán, tư vấn kịp thời.
Dự án Tiêm chủng mở rộng- Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
5 điều quan trọng cần làm khi con bị đau mắt đỏ
Trẻ nhỏ là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm đau mắt đỏ cao hơn người lớn. Và khi bị bệnh, trẻ có thể bị nặng hơn người lớn, việc điều trị gặp khó khăn hơn do trẻ hay lấy tay dụi mắt để làm cảm giác ngứa ngáy. Hiện tại chưa có thuốc đặc trị tiêu diệt virus gây bệnh đau mắt đỏ. Việc điều trị bệnh chủ yếu là làm giảm các triệu chứng và tăng sức đề kháng cơ thể để chống lại sự hoạt động của virus.
Vì vậy, khi trẻ bị đau mắt đỏ, cha mẹ cần biết cách xử lý, chăm sóc trẻ đúng cách để bệnh có biến chuyển tốt và nhanh khỏi.
Cha mẹ cũng có thể dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa mắt cho trẻ mỗi ngày.
1. Lau rửa mắt thường xuyên
Hàng ngày, cha mẹ cần lau rửa ghèn, dử mắt cho con ít nhất 2 lần/ngày bằng khăn ẩm hoặc bông sạch. Lau xong vứt bỏ bông, không dùng lại, còn với khăn cần giặt sạch, cẩn thận hơn nữa thì luộc qua nước sôi để tiêu diệt vi khuẩn bám trên khăn. Cha mẹ cũng có thể dùng nước muối sinh lý 0,9% hay cao cấp hơn là nước mắt nhân tạo để rửa mắt cho trẻ mỗi ngày, làm giảm cảm giác cộm rát khó chịu.
2. Cho trẻ đeo kính để tránh bụi bẩn bay vào mắt
Người bị đau mắt nên đeo kính vừa để đỡ ngại với người khác vừa để tránh bụi bẩn bay vào mắt. Vì vậy, nếu con bị đau mắt đỏ, cha mẹ nên đeo kính cho con để hạn chế mắt tiếp xúc với khói bụi, làm cho tình trạng viêm, nhiễm trùng tăng lên, bệnh sẽ càng lâu khỏi. Cha mẹ nên tham khảo tư vấn của bác sĩ để chọn loại kính phù hợp, đảm bảo an toàn cho mắt của con.
3. Giữ gìn để tránh đau cả hai mắt
Bình thường, khi bị đau mắt, người bệnh sẽ bị một bên mắt, nếu không giữ gìn cẩn thận thì sẽ lây sang mắt bên kia. Vậy nên, nếu trẻ bị đau một bên mắt, cha mẹ cần giữ vệ sinh an toàn tuyệt đối cho con, tránh để virus gây bệnh có cơ hội tiếp xúc với mắt không bị bệnh bằng cách tránh dùng thuốc một lọ thuốc nhỏ cho cả 2 bên mắt. Trước và sau khi vệ sinh mắt, nhỏ mắt, cha mẹ cần rửa tay thật sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.
4. Nên cho trẻ nghỉ học và hạn chế tiếp xúc với những người không bị bệnh
Trẻ bị bệnh nên được nghỉ học, không đến trường hoặc những nơi đông người trong thời gian bị bệnh để tránh làm bệnh lây lan rộng sang những người khác. Trẻ cũng không nên ôm ấp, thơm, hôn những người khác vì bệnh đau mắt đỏ qua đường hô hấp, nước mắt, nước bọt, bắt tay, đặc biệt nước mắt người bệnh là nơi chứa rất nhiều virus...
5. Tăng cường dinh dưỡng cho trẻ và không được tự ý dùng thuốc
Cha mẹ cần bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ để trẻ đủ sức đề kháng với bệnh, không bị suy kiệt về sức khỏe khiến cho bệnh càng lâu khỏi. Trẻ cũng cần được nghỉ ngơi, cách ly, dùng thuốc theo đơn của thầy thuốc. Cha mẹ không nên tự ý mua thuốc nhỏ mắt, dùng thuốc nhỏ mắt của người khác cho con mà không hỏi ý kiến bác sĩ vì mỗi người bệnh có thể thích hợp với các loại thuốc khác nhau, nếu không dùng đúng thuốc bệnh sẽ rất lâu khỏi.
Thường xuyên rửa tay với nước sạch, xà phòng diệt khuẩn hoặc dung dịch sát khuẩn để phòng bệnh đau mắt đỏ.
Bệnh đau mắt đỏ thường gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, học tập của trẻ, về lâu dài có thể gây giảm thị lực của trẻ về sau này. Vì vậy, điều mà cha mẹ nào cũng nên làm là giáo dục con có ý thức phòng bệnh và giúp con phòng bệnh tốt nhất. Để phòng bệnh cho con, cha mẹ cần lưu ý một số nguyên tắc thiết yếu phòng bệnh cho con như:
- Luôn đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với nước sạch, xà phòng diệt khuẩn hoặc dung dịch sát khuẩn. Thói quen rửa tay cần được thực hiện đều đặn hàng ngày, nhất là trước, sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh hoặc tiếp xúc với các vật có khả năng nhiễm bệnh...
- Không dùng tay dụi mắt.
- Rửa mắt hàng ngày bằng nước muối sinh lý (nước muối 0,9%), ngày ít nhất 3 lần vào các buổi sáng, trưa, tối.
- Không dùng chung thuốc nhỏ mắt, không dùng chung đồ đạc với người đau mắt.
- Hạn chế tiếp xúc với người bị đau mắt hoặc đến những nơi đông người, đặc biệt là những nơi có nhiều mầm bệnh như bệnh viện…
- Hạn chế sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm, hạn chế đi bơi.
Lai rai như tai mũi họng
Tại sao?
Bệnh lý TMH thường liên quan với nhau. Viêm họng dễ gây viêm các vùng lân cận: thanh quản, mũi vì chúng thông với nhau và dễ dẫn đến viêm xoang. Bệnh gây khó chịu, nhì nhằng không dứt, nên trong dân gian lưu truyền câu: “”. Bệnh làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân. Bác sĩ Võ Quang Phúc - Phó giám đốc BV Tai - Mũi - Họng TP.HCM giải thích: “Có nhiều nguyên nhân khiến bệnh TMH khó hết: do ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm, dùng thuốc không đúng liều, không đúng thời gian, không tái khám theo lời hẹn của bác sĩ, tự động mua thuốc tại các nhà thuốc về dùng…”.
Tác hại của thuốc nhỏ tai
Màng nhĩ, bên cạnh việc tham gia thu nhận âm thanh, còn là “lá chắn” bảo vệ tai giữa và tai trong (nơi chứa tế bào thần kinh thính giác, tiền đình phụ trách việc thu nhận âm thanh) không cho các chất độc hại thấm vào. Trên thị trường có hai loại thuốc nhỏ tai: loại dùng cho những trường hợp màng nhĩ bị thủng và màng nhĩ bình thường. Đã có trường hợp người bệnh khi bị viêm tai, tai chảy mủ, màng nhĩ đã bị thủng nhưng không biết, lại mua thuốc dành chomàng nhĩ bình thường về dùng, sau một thời gian phát hiện tai mình bị ù, nghe kém, đi khám mới phát hiện bị điếc. Điếc do ngộ độc thuốc gây ra cho đến nay vẫn chưa điều trị được. Các phương pháp dùng máy trợ thính, cấy ốc tai điện tử được thực hiện khi điếc chưa nặng, tuy nhiên rất tốn kém. Vì vậy, khi thấy bị viêm tai, chảy mủ tai, cần đến khoa TMH để được khám và chỉ định cách điều trị.
Thuốc nhỏ mũi
Thuốc nhỏ mũi có nhiều loại, đặc biệt có loại làm co mạch, giảm sung huyết ở niêm mạc mũi, thường được sử dụng trong các trường hợp nghẹt mũi, chẳng hạn như naphazoline (biệt dược Nasoline, Rhinex 0,05 %), Xylometazoline… Thuốc nhỏ mũi có giá rất mềm, nhưng hiệu quả nhanh, nhỏ vào là mũi đang “sụt sùi” trở nên khô nhanh chóng. Tuy nhiên, thuốc này nếu sử dụng lâu dài sẽ dẫn tới phụ thuộc, không nhỏ mũi sẽ bị nghẹt, viêm mũi… Khi thuốc không còn tác dụng, việc điều trị rất khó khăn, phần lớn phải phẫu thuật cắt cuống mũi. Trong bảng hướng dẫn của thuốc có yêu cầu không sử dụng thuốc quá một tuần, nhưng bệnh nhân thường không đọc nên bệnh viện lắm lúc phải điều trị những trường hợp viêm mũi do thuốc gây ra.
Đối với trẻ em, niêm mạc TMH còn rất mỏng manh, dễ bị thương tổn, khi dùng những loại thuốcTMH tại chỗ phải theo hướng dẫn của bác sĩ, không được lạm dụng. Đã có trường hợp thuốc nhỏ mũi co mạch, gây co thắt mạch máu não, làm bé bị hôn mê, tử vong. Thuốc kháng histamine chống sổ mũicó những loại không thích hợp với trẻ em, ví dụ như Polaramine khi uống vào thường có các tác dụng phụ như: buồn ngủ nhiều, ngủ li bì… Thuốc tích tụ trong cơ thể, không chuyển hóa qua gan. Nếu dùng quá liều sẽ bị ngộ độc thuốc (ói, mửa, nổi mề đay, sốt, bứt rứt khó chịu)…
Khi bị nghẹt mũi, nên dùng thuốc nhỏ mũi là nước muối sinh lý theo chỉ định trên toa, vừa diệt khuẩn vừa không bị tác dụng phụ. Nếu nhỏ nước muối mà bệnh không giảm, lại chớm sốt thì cần đi khám vì đội quân vi trùng đã áp đảo bạch cầu và lấn chiếm nhiều “thành trì” mà nước muối không thể diệt được, lúc này bác sĩ sẽ cho dùng kháng sinh, kháng viêm…
Thuốc súc họng
Khi bị viêm họng, không ít người tìm đến nhà thuốc mua thuốc súc họng hoặc viên ngậm để trị đau cổ. Tuy nhiên, đã là thuốc là có chỉ định, chẳng hạn như Eludril súc hai-ba lần/ngày nhưng không dùng quá năm ngày, không dùng cho trẻ em dưới sáu tuổi. Thuốc súc miệng có thể trở thành đại họa nếu người dùng dị ứng với thành phần của thuốc. Dùng thuốc súc họng, viên ngậm dài ngày chẳng những không hết bệnh mà còn bị nấm họng, viêm loét họng do rối loạn thảm khuẩn vùng này. Các loại thuốc điều trị bệnh ở họng hầu hết đều có khuyến cáo không nên sử dụng cho trẻ dưới hai tuổi.
Ngay khi mới chớm viêm họng, người bệnh có cảm giác đau rát khi nuốt, nên nghĩ đến nước muối sinh lý. Nhiều người nghĩ nước muối càng mặn càng tốt. Điều này sai, độ mặn lờ lợ mới diệt khuẩn. Hiện, các nhà thuốc tây đều có bán nước muối sinh lý này với giá mềm, tiện dụng. Nếu tự pha nước muối, nên pha mặn một chút, đến khi dùng chỉ cần thêm chút nước sôi là dung dịch có độ mặn vừa phải và ấm áp, giúp mạch máu dãn nở, máu đến nhiều, bạch cầu có mặt nhiều hơn để diệt khuẩn. Cần súc họng sau mỗi ba tiếng đồng hồ, súc trước khi đi ngủ và sáng sớm thức dậy. Khi súc, ngồi ngửa cổ, dùng hơi đẩy nước (khò) tạo ra tiếng kêu rồi nhổ ra ngoài và lặp lại ba-bốn lần. Khi bị viêm họng, cần vệ sinh họng kỹ lưỡng (đánh răng, nạo lưỡi, súc họng, uống nhiều nước ấm…).
Cách dùng nước muối khi bé bị nghẹt mũi
Rửa mũi giúp bé loại bỏ vi trùng, chất dịch đặc trong mũi để bé dễ thở. Rửa mũi còn giúp "đánh đuổi" không cho vi trùng, vi khuẩn xâm lấn gây viêm họng, hoặc nặng hơn nữa là viêm phế quản, viêm phổi. Nhỏ mũi bằng nước muối là cách sát trùng, trị nghẹt mũi hiệu quả.
Có nhiều loại nước muối, công dụng cụ thể như sau:
- Nước muối sinh lý thường sử dụng có nồng độ 9‰. Nồng độ này bằng với áp suất thẩm thấu trong máu có công dụng làm sạch mũi, diệt khuẩn.
- Nước biển sâu trong đó có khoáng chất vi lượng có tính sát trùng và kích thích miễn dịch niêm mạc mũi.
Cách sử dụng
- Nhỏ mũi: Nhỏ mũi từ sáu-tám lần, mỗi bên một-hai giọt. Khi nhỏ, để bé ngửa mặt lên.
- Rửa mũi: Thực hiện khi bé bị nghẹt mũi nặng. Cho bé nằm nghiêng cả người lẫn đầu, dùng tay giữ đầu bé. Dùng ống nước muối sinh lý đặt vào bên trong mũi bé hơi nhếch cánh mũi lên một chút. Bơm nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Cách bơm này sẽ tạo áp suất để nước muối chạy từ lỗ mũi bên này sang bên kia. Sau đó, bơm một ống nữa với bên còn lại.
Để dễ thực hiện động tác rửa mũi, trên thị trường cũng có những chai nước muối có áp lực phun sương. Với loại nước muối này khi rửa chỉ cần cho bé ngồi, để ống thẳng đứng, xịt thẳng lên mũi. Xịt phun sương một lần nữa với bên mũi còn lại.
Kinh nghiệm cho thấy, các bé sẽ khó chịu và phản ứng trong lần đầu rửa mũi, nhưng những lần sau bé rất… hợp tác vì cảm thấy dễ chịu ngay sau khi rửa.


Thứ Ba, tháng 12 02, 2014
doanh nhan