Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Bệnh nhuyễn xương ở trẻ em, dùng thuốc gì?

Bệnh nhuyễn xương (osteomalacia) gây nên do tình trạng thiểu năng sự cốt hóa của xương. Ở trẻ em, do trong cơ thể thiếu ergocalciferol (vitamin D2) và cholecailciferol (vitamin D3), biểu hiện bằng các triệu chứng còi xương. Ở người lớn, biểu hiện bằng các triệu chứng đau ở đốt sống, hạn chế tầm vận động của đốt sống.
Bệnh này chủ yếu là dùng phương pháp điều trị nội khoa. Các thuốc dùng điều trị như: bổ sung vitamin D, có thể dùng sterogyl (10.000 - 20.000 đơn vị mỗi ngày) hoặc sterogyl A 15mg (uống 1 ống mỗi tuần, với liệu trình kéo dài cho tới khi khỏi lâm sàng và calci niệu trong 24 giờ trở về mức bình thường, tức là khoảng 80 - 100mg/24 giờ). Trường hợp nhuyễn xương căn nguyên tiêu hóa, đôi khi phải dùng vitamin D với liều cao hơn (tới 500.000 đơn vị/ngày). Sau khi khỏi bệnh cần điều trị củng cố, nhất là căn nguyên nhuyễn xương còn tồn tại: dùng sterogyl A15mg: mỗi tháng uống 1 ống trong 6 tháng. Ở những bệnh nhân do kém hấp thu thì có thể dùng vitamin D liều 100.000IU/ngày kết hợp với calcium carbonat. Ngoài ra, có thể bổ sung thêm phospho-calci.
Bên cạnh việc dùng thuốc cần có chế độ ăn giàu calci (sữa, phomat…) và các loại rau quả.
 Xương bình thường.                               Xương bị nhuyễn.
Trường hợp nhuyễn xương do các thuốc chống co giật và suy thận mạn thể tổn thương nhuyễn xương, có thể dùng: dérogyl hoặc sterogyl. Cần đồng thời điều trị chứng đi tiêu phân mỡ có thể xảy ra. Hiện nay, người ta còn dùng pocaltriol (calcitriol). Trong quá trình điều trị, phải kiểm tra tỷ lệ calcium và phosphate trong máu và nước tiểu.
Đối với trẻ em, tùy từng lứa tuổi và trạng thái toàn thân, thầy thuốc chuyên khoa sẽ chỉ định và sử dụng các thuốc trên với liều lượng thích hợp.
PGS. Vũ Quang Bích

Viêm khớp still ở trẻ em

Xin cho biết về viêm khớp Still, bệnh này nghe nói chỉ xảy ra ở trẻ em không xảy ra ở người lớn. Nguyên nhân gây bệnh là gì? Làm sao để có thể phát hiện sớm vì nghe nói bệnh này nguy hiểm?
(Nguyễn Châu Giang - Long An)
Khi nói đến bệnh khớp ở trẻ em, người ta thường hay nghĩ đến bệnh thấp khớp cấp hay thấp tim. Tuy nhiên, một bệnh lý khác cũng thường gặp và thậm chí cũng có thể gây nhiều biến chứng không kém đó là bệnh viêm khớp mãn tính ở thiếu niên (thể bệnh toàn thân còn gọi là bệnh Still).
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 16 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh giữa nữ và nam thay đổi tùy theo từng thể bệnh. Cơ chế gây viêm khớp mãn tính ở thiếu niên vẫn còn chưa được biết rõ. Người ta chỉ ghi nhận sự hiện diện của một số kháng thể miễn dịch tuỳ theo thể bệnh: HLA B27 trong 90% các trường hợp viêm khớp cột sống ở trẻ em, kháng thể kháng nhân (ANA) trong thể tổn thương ít khớp hay yếu tố thấp (RF) trong thể tổn thương nhiều khớp.
Trong bệnh viêm khớp mãn tính sẽ hay gặp tình huống sau: trẻ thường bị sốt dao động, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường. Trẻ có thể bị nổi mẩn đỏ ở thân mình và các gốc chi nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, thường là trẻ bị sưng đau các khớp cổ tay, khớp gối và mắt cá chân cả hai bên. Các tổn thương khác cũng có thể gặp như trẻ bị nổi hạch, gan lách to, viêm đa màng như tràn dịch màng phổi,viêm màng tim hay viêm cầu thận. Xét nghiệm máu cho thấy tăng cao bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính), giảm tiểu cầu, thiếu máu.
Bệnh nhân cần phải được khám và điều trị ở bác sĩ chuyên khoa khớp vì có thể trẻ bị thể bệnh nặng gây nguy hiểm.
BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Ðái dầm ở trẻ, chữa thế nào?

Con trai tôi năm nay hơn 4 tuổi. Từ nhỏ cháu đã có chứng đái dầm cả ngày lẫn đêm, kể cả lúc không ngủ. Xin hỏi bác sĩ, nguyên nhân và cách điều trị chứng bệnh này?
Phan Quỳnh Hoa (Hà Nội)
Đái dầm ở trẻ em là trẻ đái trong khi ngủ hoặc khi chơi mà không biết. Người ta chỉ coi đái dầm ở trẻ em là bệnh lý khi trẻ được trên 3 tuổi. Có hai loại đái dầm ở trẻ em là đái dầm ban đêm và đái dầm ban ngày. Đái dầm ban đêm thường gặp ở bệnh nhi ngủ say hơn những trẻ khác. Đái dầm ban ngày khi trẻ đái ra quần vì mải chơi hoặc do trẻ xấu hổ không dám xin đi tiểu, thường thấy ở những trẻ có tính tình nhút nhát, sợ hãi. Đái dầm cũng có thể do dị tật đường tiểu như hẹp bao quy đầu hoặc bệnh ở cột sống như gai đôi cột sống, viêm đường tiết niệu gây đái dắt, cũng có thể do nước tiểu axít hoặc kiềm. Việc điều trị cần phải căn cứ vào nguyên nhân, nếu do hẹp bao quy đầu nhiều cần cắt bao quy đầu, nếu nước tiểu axít cần cho uống dung dịch natri bicarbonat, nếu nước tiểu kiềm cho uống dung dịch axít phosphoric và natri phosphat acid pha trong nước có thêm một ít đường. Nếu không rõ nguyên nhân, cần chú ý chế độ ăn uống, tránh không cho uống nhiều nước vào chiều tối, cần động viên, khuyến khích tính tự tin của trẻ.
Bạn nên cho cháu đi khám tại chuyên khoa tiết niệu hoặc ngoại nhi để tìm nguyên nhân, từ đó bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị cụ thể.
PGS. TS.Hà Hoàng Kiệm

Khắc phục chứng táo bón ở trẻ

Trẻ sơ sinh đi tiêu dưới 2 lần/ngày; trẻ (được bú mẹ) đi tiêu dưới 3 lần/ngày hoặc trẻ lớn đi tiêu dưới 2 lần/tuần thì được coi là táo bón. Tuy nhiên, nếu sức khỏe tốt, phân bé bình thường thì nhu cầu đi tiêu ở mỗi bé là khác nhau. Bé bị táo bón khi phân bé đóng cục, giống như phân dê.
 Chế độ ăn uống không phù hợp có thể làm trẻ táo bón
Nguyên nhân và hậu quả của táo bón
- Trẻ ít uống nước, ăn rau xanh, hoa quả.
- Pha sữa đặc.
- Pha sữa bằng nước cháo.
- Trẻ ít vận động.
- Do trẻ dùng thuốc. Một số loại thuốc có thể gây táo bón ở trẻ là thuốc ho, thuốc nhỏ mũi, thuốc có chất sắt…
- Một số lý do có thể khiến trẻ sợ hãi (không muốn đi tiêu dù trẻ có nhu cầu): hậu môn bị trầy xước; phân quá cứng gây khó khăn cho trẻ mỗi lần đi tiêu; trẻ bị cha mẹ mắng trong lần đi tiêu trước đó… Phân bị lưu trữ trong trực tràng lâu ngày sẽ trở nên cứng, trẻ sẽ càng bị táo bón nhiều hơn.
- Chứng táo bón có thể xảy ra khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa do chuyển từ bú mẹ sang dùng sữa bột.
- Rối loạn cảm xúc cũng được chứng minh là gây ra chứng táo bón của trẻ.
Trẻ bị táo bón lâu ngày không được điều trị sẽ trở nên biếng ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, trướng bụng, đầy hơi, khó tiêu, dễ bị nôn trớ… Những độc tố chứa trong phân sẽ gây nên phản ứng hấp thụ lại và gây hại cho cơ thể trẻ.
Xử trí với trẻ bị táo bón
Với trẻ bú mẹ: trường hợp này, người mẹ nên bổ sung nhiều rau xanh, hoa quả trong khẩu phần ăn của mình. Nên uống nhiều nước. Xoa bóp bụng đúng cách để kích thích nhu động ruột.
- Nên cho trẻ bú tăng cường (vì trong sữa mẹ chứa khoảng 70% là nước). Nếu trẻ đã bú bình, bạn không nên pha loãng sữa cho trẻ bú, cách này vừa làm mất thành phần dinh dưỡng có trong sữa vừa làm mất thời gian cho trẻ ăn. Nên cho trẻ uống thêm nước sau khi ăn khoảng 15 phút.
- Trường hợp muốn dùng thuốc trị táo bón, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ thật cẩn thận.
Với trẻ ở độ tuổi ăn dặm: nên cho trẻ ăn đủ số bữa hàng ngày. Tăng cường thêm các loại rau xanh nhất là những loại có tính chất nhuận tràng như khoai lang, mồng tơi, rau dền. Khi nấu bột cho trẻ, bạn nên băm nhỏ nhau và cho trẻ ăn cả cái. Lượng rau xanh cần thiết cho trẻ 1 tuổi là khoảng 25 - 30g. Cho trẻ ăn thêm bưởi, cam, quýt, chuối, đu đủ… tránh cà rốt, hồng xiêm, táo…
- Cho trẻ uống nước ép hoa quả tươi hoặc nước rau pha loãng với nước 2 lần/ngày.
- Cho trẻ uống thêm nước nếu trẻ bị ra mồ hôi nhiều, môi trẻ khô, nước tiểu ít, màu vàng sậm. Tránh các loại nước hoa quả đóng hộp, nước ngọt đóng chai, nước có gas...
- Để tránh pha sữa đặc, bạn chỉ nên pha sữa cho trẻ theo đúng hướng dẫn ghi bên ngoài bao bì. Khi múc một muỗng sữa, chỉ nên gạt ngang, không cố gắng lèn chặt muỗng sữa.
- Massage bụng cho trẻ sau khi trẻ tắm bằng nước ấm: nên bắt đầu từ rốn và di chuyển dần ra ngoài ngược chiều kim đồng hồ.
- Tập động tác đạp xe cho đôi chân trẻ nhằm giúp các cơ dạ dày chuyển động tốt.
- Trẻ vận động nhiều sẽ có xu hướng ít bị táo bón hơn trẻ thích ngồi lâu một chỗ hoặc được bế thường xuyên.
- Nếu bạn muốn dùng thuốc trị táo bón cho trẻ nên tham khảo ý kiến bác sĩ. Bác sĩ sẽ quyết định xem có nên cho trẻ dùng thuốc nhuận tràng không. Một chu trình dùng thuốc nhuận tràng có thể kéo dài 1 - 3 tháng và giảm dần liều lượng.
Những trường hợp sau, bạn nên đưa trẻ đi khám:
- Trẻ dưới 1 tuổi bị táo bón kéo dài.
- Táo bón ngay sau khi trẻ mới sinh, có biểu hiện bụng trướng.
- Táo bón kéo dài trên 1 tuần.
- Táo bón kèm theo nôn trớ, chán ăn, gầy sút…
NGỌC HUÊ

Chăm sóc trẻ bị chàm thể tạng tại nhà

Chàm thể tạng là bệnh viêm da mạn tính, không lây, thường xảy ra trên cơ địa có tiền sử bản thân hay gia đình bị suyễn, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, hay viêm da thể tạng.
Bệnh thường khởi phát ở nhũ nhi hay trẻ nhỏ và khó chữa hết dứt điểm, nhưng có thể kiểm soát tốt để nâng cao chất lượng cuộc sống. Một số lưu ý dưới đây giúp chăm sóc trẻ bị chàm thể tạng ở nhà.
 Tổn thương chàm ở bàn tay
Vệ sinh - tắm rửa:
- Tắm nước ấm, không quá 2 lần mỗi ngày, thời gian tắm không quá 15 phút.
- Dùng sữa tắm dịu-nhẹ, có pH trung tính hay acid nhẹ (pH = 4,5 - 6,5), thích hợp riêng cho da bị chàm.
- Lau khô trẻ sau tắm bằng khăn tắm mềm, mịn, không chà mạnh lên da bé.
- Thoa chất giữ ẩm (vaselin, physiogel, cetaphil, oilatum...) thường xuyên, trong vòng 3 phút ngay sau tắm, ngày 3 - 4 lần.
- Khi tắm hồ, tắm biển, nên tắm trước và sau khi bơi bằng nước sạch, để hạn chế khô da do nước biển và kích ứng da do chất cloride dùng để sát trùng trong hồ bơi.
- Không nên tiếp xúc xà bông, bột giặt, thuốc tẩy, nước hoa.
Áo quần:
- Mặc quần áo, găng tay, vớ chân bằng chất liệu 100% cotton để thấm tốt mồ hôi và cho da bé thông thoáng, “dễ thở”.
- Không mặc đồ quá chật, hay vải bằng len, sợi tổng hợp vì dễ gây kích ứng da.
Tránh cào gãi:
- Cắt ngắn móng tay, móng chân để tránh bé ngứa, gãi làm tăng nhiễm trùng da.
- Nếu trẻ cào gãi nhiều, nên mang vớ chân, găng tay cho bé để hạn chế cào gãi.
Phòng ốc:
- Phòng thông thoáng, không khói thuốc, không nước hoa, không thú nuôi.
- Không để nhiệt độ phòng quá nóng, quá lạnh hay độ ẩm quá thấp.
Ăn uống:
- Chỉ kiêng cữ một số thực phẩm nào làm bệnh chàm của bé nặng hơn.
- Uống nhiều nước.
- Vệ sinh mặt, miệng sau mỗi lần ăn hay bú sữa.
Tâm lý:
- Tạo tâm lý cho trẻ và gia đình luôn vui tươi, thoải mái.
- Tránh căng thẳng, nhất là trong các đợt thi cử, học hành.
Chú ý:
- Không hôn gần vị trí tổn thương da của bé, vì dễ tăng nguy cơ nhiễm trùng. Đặc biệt, người có bệnh thủy đậu, viêm da Herpes, lở môi-miệng, tuyệt đối tránh gần bé vì dễ gây cho bé bị bệnh mụn mủ dạng thủy đậu, là bệnh nặng, có nhiều biến chứng nguy hiểm.
- Không chích ngừa vắc-xin thủy đậu trong giai đoạn tiến triển của bệnh chàm, vì có thể đưa đến biến chứng bệnh mụn mủ dạng thủy đậu.
- Không tự ý dùng thuốc, nhất là corticoid vì có nhiều tai biến và tác dụng phụ.
ThS.BS. NGUYỄN ĐÌNH HUẤN

Cảnh báo suy thận mạn ở tuổi học đường

Suy thận mạn (STM) là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa tiến triển mạn tính qua nhiều năm tháng, hậu quả của sự xơ hóa các nephron chức năng gây giảm sút từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nitơ phi protein máu như urê, creatinin máu, acid uric... Ở nước ta chưa có số liệu thống kê về STM trẻ em, nhưng tỷ lệ STM giai đoạn cuối chung cho cả người lớn và trẻ em là 0,06 - 0,08% dân số. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới bệnh lý này?
Nguyên nhân gây suy thận mạn
Viêm cầu thận dẫn đến STMở trẻ em chiếm tỉ lệ cao nhất, trong đó đáng lưu ý là nguyên nhân viêm cầu thận liên quan đến nhiễm khuẩn (viêm cầu thận cấp). Bệnh thường gặp ở trẻ em sau viêm họng hoặc viêm da. Các nghiên cứu ở nước ta cho thấy có 5 - 10% bệnh nhi, bệnh tiếp tục tiến triển mạn tính và gây suy thận sau 10 năm bị viêm cầu thận cấp. Có 80% trẻ bị viêm cầu thận cấp xảy ra sau viêm họng hoặc viêm da do liên cầu khuẩn, số còn lại do các vi khuẩn khác. Độ tuổi thường gặp là 6-9, bệnh xảy ra quanh năm nhưng tập trung nhiều vào các tháng 9 - 12. Nghiên cứu sinh thiết thận ở trẻ viêm cầu thận cấp sau 10 - 15 năm cho thấy có tới 70% trường hợp có tổn thương xơ cứng cầu thận từng phần hoặc hoàn toàn, trong đó 30 - 40% có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Riêng ở tỉnh Vĩnh Phúc trong 10 năm (1995 - 2005) có 274 bệnh nhi bị viêm cầu thận cấp vào điều trị tại bệnh viện tỉnh, trong đó có 5,4% bệnh nhi bệnh tiến triển thành mạn tính và suy thận, sau 7 - 10 năm có 1,8% bệnh nhi phải lọc máu chu kỳ (Tạ Ngọc Cầu, Hà Hoàng Kiệm). Nếu làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe, vệ sinh thân thể, vệ sinh răng miệng, đề phòng và điều trị sớm nhiễm khuẩn họng và da thì có thể làm giảm được bệnh này, góp phần làm giảm tỉ lệ STM ở trẻ em.
 Viêm thận kẽ là một nguyên nhân chính gây suy thận.
- Viêm bể thận/viêm thận kẽ
đứng hàng thứ hai, trong đó tắc nghẽn đường dẫn niệu chiếm 6,2%, thường do hẹp khúc nối bể thận - niệu quản bẩm sinh. Có thể phát hiện sớm bằng siêu âm thận và phẫu thuật để sửa chữa. Bệnh thận do trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản mỗi lần rặn đái chiếm 6,9%. Có thể phát hiện sớm bệnh này bởi triệu chứng trẻ thấy đau tức vùng hố thắt lưng mỗi lần rặn đái. Nếu trẻ có triệu chứng trên thì cần chụp bàng quang có bơm thuốc cản quang kết hợp rặn đái để xác định. Hình ảnh Xquang sẽ cho thấy nước tiểu trào ngược từ bàng quang lên niệu quản. Bệnh lý này là do khuyết tật ở van giữa niệu đạo và bàng quang, có thể điều trị sửa chữa khuyết tật này.
- Bệnh thận bẩm sinh gặp 16,2% số trẻ STM, trong đó bệnh thận nang chiếm 1,9% có thể phát hiện sớm bằng siêu âm thận. Hội chứng Alport chiếm 1,5% - đây là hội chứng bệnh lý có tính chất gia đình, bệnh biểu hiện bằng suy thận và 50% bệnh nhi có kèm theo điếc. Ngoài ra có thể gặp các bệnh thận bẩm sinh khác như Cystinosis, Oxalosis.
- Các bệnh hệ thống gặp 7% số trẻ STM, trong đó viêm thành mạch dị ứng (Henoch - Schonlein - pupura) chiếm 2,4%. Bệnh biểu hiện bằng từng đợt xuất huyết dưới da thể chấm, chủ yếu ở hai chân, đối xứng, có thể kèm theo đau sưng các khớp, có protein niệu, có thể điều trị lui bệnh bằng các thuốc corticoid. Hội chứng tan máu - urê máu chiếm 3,1% biểu hiện bằng vàng da, bilirubin máu tăng, thiếu máu, urê máu tăng.
Hậu quả do suy thận mạn
 Khi đã bị STM tính thì bệnh sẽ tiến triển dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Lúc này để duy trì cuộc sống của bệnh nhân phải điều trị thay thế thận bằng lọc máu hoặc ghép thận, đây là các kỹ thuật cao hết sức tốn kém. Các phương pháp điều trị bảo tồn STM chỉ có vai trò kéo dài thời gian ổn định chức năng thận và làm chậm tiến triển của suy thận đến giai đoạn cuối. Vì vậy vấn đề chăm sóc sức khỏe cho trẻ em như vệ sinh thân thể, vệ sinh răng miệng, phòng và điều trị sớm các nhiễm khuẩn ở họng hoặc da và các nhiễm khuẩn khác, phát hiện sớm các bệnh thận bẩm sinh như hẹp khúc nối bể thận niệu quản, trào ngược nước tiểu bàng quang lên niệu đạo, bệnh thận nang để có biện pháp điều trị sớm, có thể làm giảm được tỉ lệ trẻ em bị STM.      
Tỉ lệ STM ở trẻ em Mỹ là 1 - 5 trẻ/ 1 triệu dân (Fine và Gruskin 1984), trong đó hơn 50% số trẻ em STM giai đoạn cuối nằm trong độ tuổi 11 - 16. Ở Đức, theo số liệu của APN (Arbeitrgemeinschaft Fur Padiatrische Nephrologie), tỉ lệ STM giai đoạn cuối ở trẻ em là 5 trẻ /1 triệu trẻ em. Tỉ lệ này tăng dần theo nhóm tuổi, từ 0 - 5 tuổi: 32%, 5 - 10 tuổi: 72%, 10 - 16 tuổi: 87%. Còn theo số liệu của Hội Lọc máu và Ghép thận châu Âu (EDTA) thì tỉ lệ trẻ em STM thay đổi từ 1 trẻ /1 triệu dân (ở Hy Lạp) đến 11 trẻ /1 triệu dân (ở Israel). Ở nước ta chưa có số liệu STM ở trẻ em, nhưng tỉ lệ STM giai đoạn cuối chung cho cả trẻ em và người lớn là 0,06 - 0,08% dân số (điều tra 18.064 người ở một số vùng dân cư). Các nguyên nhân STM ở trẻ em gồm: viêm cầu thận 31%; viêm bể thận/viêm thận kẽ 22,5%; bệnh thận bẩm sinh 16,2%; bệnh hệ thống 7,0%; bệnh mạch máu thận 1,5%; các bệnh khác 5,7%; không rõ nguyên nhân 3,7% (theo EDTA).

 PGS. TS. BS.Hà Hoàng Kiệm (BV 103)

Làm sao biết con bị tự kỷ?

Chứng tự kỷ ở trẻ em không còn xa lạ đối với hầu hết các phụ huynh. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh không có khái niệm rõ ràng về nó. Vậy để nhanh chóng phát hiện bệnh nhằm đưa ra cách xử lý kịp thời, cha mẹ cần lưu ý đến những biểu hiện điển hình của tự kỷ.
 Phụ huynh cần nhận biết sớm những dấu hiệu tự kỷ ở con mình
Dấu hiệu cảnh báo dưới 1 tuổi
Dạng bé hiền”: cứ ăn rồi ngủ, đặt đâu nằm đó ít quấy khóc hoặc ê a. Ở dạng này, mẹ lại rất hay tự hào về bé vì cho rằng mới sinh ra mà bé đã rất “biết điều”, biết thương mẹ! Bé hầu như không đòi hỏi sự tương tác của người lớn.
Dạng bé quậy”:
- Khóc vô cớ bất kể ngày đêm, không tìm ra lý do, không ai dỗ nổi (không phải khóc dạ đề). Khi khóc, rất thảm thiết, hay ưỡn người ra xa mẹ.
- Ít ngủ, khó dỗ ngủ hoặc không ngủ, ngủ không sâu. Hay trân mình, gồng người như thể vươn vai hay bị mỏi.
- Phản xạ nhai kém hoặc không co, ăn thì hay nuốt trọng.
- Hiếm hoặc không có nụ cười “bà mụ dạy”. Dù còn nhỏ nhưng có vẻ mặt ưu tư xa vắng như ông cụ non.
- 8 - 9 tháng vẫn không biết lạ. Ít chơi đồ chơi.
- Đến 1 tuổi vẫn không biết chỉ trỏ, không bi bô bập bẹ.
Dấu hiệu bệnh lý từ 1 tuổi trở đi
- Ăn vạ thường xuyên, có vẻ là một bé “khó ưa”.
- Không muốn kết bạn, hầu như không tương tác với xung quanh.
- Ít hồi đáp khi nghe gọi tên, giao lưu bằng mắt rất kém.
- Các hoạt động có xu hướng bất biến (xem hoài những băng đĩa chương trình quen thuộc, “nghiện” một số món đồ dùng, bắt đi theo lộ trình quen thuộc, món ăn quen thuộc…).
- Khả năng tập trung chú ý rất kém hoặc không có.
- Rất kén ăn, khó ăn. Hoặc có những bé còn rất nhỏ nhưng lại ăn những thứ rất “người lớn” như: hành tỏi sống, muối ớt, uống nước mắm… Ăn đầy đủ nhưng vẫn suy dinh dưỡng hoặc ăn đúng chế độ chuẩn nhưng vẫn béo phì.
- Đi rất ít té hoặc không hề té dù mới biết đi (mẹ cũng rất hay tự hào về điều này). Chạy nhiều, đi ít, đi nhón chân, đi không biết đánh tay đòng đưa.
- Hành vi khác lạ: hay xoay đồ vật (bánh xe đồ chơi, viết, lược...) hoặc tự xoay tròn. Tự hành hạ hoặc hành hạ người thân (túm tóc, cào cấu, cắn, đánh). Không biết nguy hiểm. Hay nói nhảm với nhiều âm nhưng vô nghĩa. Khó gội đầu cắt tóc, khó cắt móng tay móng chân. Hay chui vào góc nhà hoặc tìm chỗ vắng ngồi chơi một mình. Khó huấn luyện đi vệ sinh. Hay vẩy tay, ấn mắt, nhìn nghiêng, liếc…
- Rất hay rối loạn tiêu hóa không lý do: hơn 60% trẻ tự kỷ bị táo bón kinh niên, cá biệt có bé liên tục bị tiêu chảy vô cớ. Hay bị viêm hô hấp trên (viêm tai - mũi - họng, viêm amidal…) với tần suất rất cao (có bé viêm nhiễm…  úng lịch!). Hay sốt, thậm chí sốt định kỳ!
Bác sĩ không tìm ra nguyên nhân thông qua xét nghiệm máu.
- Thở khó khi ngủ, có bé nửa đêm thức giấc thở dốc.
- Ngôn ngữ: không có, mất dần hoặc không hoàn chỉnh. Thể hiện: không nói được từ đơn khi đã 16 tháng (từ có 1 chữ); không nói được từ đôi khi đã 2 tuổi (từ có 2 chữ); nói khó, ghét nói; đã nói được, nói giỏi nhưng bỗng nhiên mất dần ngôn ngữ: nói ngày càng ít đi, và cuối cùng không chịu nói nữa, thường xảy ra ở độ tuổi từ 18 tháng đến khoảng gần 4 tuổi; nói suôn sẻ, nhưng không đúng ngữ cảnh (nội dung không liên quan đến hoàn cảnh – môi trường xung quanh).
Tùy theo tình trạng bệnh từ nhẹ đến nghiêm trọng, những triệu chứng nêu trên sẽ tăng từ ít tới nhiều. Nhưng nếu chỉ “vướng” vào một trong những biểu hiện đã nêu trên, thì bé cũng đã trở thành một bệnh nhân tự kỷ, vì đây là những triệu chứng cực kỳ điển hình. Nếu bé “vướng” phải đến 35% các triệu chứng kể trên thì bé đã mắc bệnh ở mức trung bình, nghĩa là không có khả năng tự hồi phục.
Đây là chứng bệnh do rối loạn chức năng não bộ, nên những bé thiếu tháng, nhẹ cân, mẹ quá stress khi mang thai hoặc gặp tai biến thai sản (nhiễm trùng ối, ít ối, đa ối, xuất huyết, dọa sinh non, sản giật…) hoặc tai biến trong khi sinh (ngợp, tím tái, ra đời muộn hơn 6 tiếng sau khi vỡ ối, sinh hút hoặc dùng y cụ lôi bé ra thiếu thận trọng, sử dụng các loại thuốc mê cho mẹ…) sẽ là “miếng mồi ngon” cho chứng bệnh rất dễ mắc nhưng cực kỳ khó chữa này.
LÊ THỊ PHƯƠNG NGA
(Chuyên gia nghiên cứu trẻ em và trẻ chậm phát triển)

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons