Để tránh nhiễm giun sán nên cho trẻ rửa tay sạch trước khi ăn, sau khi đi đại, tiểu tiện. Ảnh: PV
|
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014
Bệnh do nhiễm giun ở trẻ
Trẻ em ở nông thôn là đối tượng dễ bị nhiễm hơn cả và trẻ thường bị nhiễm nhiều loại giun cùng một lúc. Nhiễm giun làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu máu, chậm lớn và học hành sa sút ...
Nguyên nhân gây nhiễm giun cho trẻ
Do điều kiện khí hậu nước ta rất thích hợp cho các loại ký sinh trùng đường ruột phát triển, chúng có trong thức ăn nấu chưa chín như thịt bò, cá, thịt cua, ếch hay rau sống... Ăn các loại rau và trái cây củ chưa được rửa sạch... Theo quan niệm của nhiều người các loại thịt tái, trứng ốp lết hoặc trứng trần còn sống... là những thức ăn bổ dưỡng cho trẻ em, nhưng thực ra nó chứa mầm bệnh giun sán rất cao, đồng thời cũng không tốt cho hệ tiêu hóa của trẻ nhỏ, nhất là những trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ em thường hiếu động, chơi những trò chơi tiếp xúc nhiều với đất và bụi bẩn, hay ngồi xuống đất, hay mút tay, ngậm các loại đồ chơi, vật lạ bẩn vào miệng. Trẻ ít rửa tay trước khi ăn, sau khi chơi với chó, mèo trong nhà, cầm nắm đồ ăn khi tay bẩn, không đi giày dép, luôn để chân tiếp xúc trực tiếp với đất. Đó là những nguyên nhân gây cho trẻ bị nhiễm giun và nhiễm nhiều loại giun cùng một lúc như: giun đũa, giun móc, giun kim...
Những loại giun dễ mắc
Giun móc: Ấu trùng giun móc xâm nhập vào cơ thể bằng cách xuyên qua da. Vì thế, ở thời kỳ đầu triệu chứng đầu tiên của người bị nhiễm giun móc là có các biểu hiện như viêm da, da nổi sẩn ngứa. Các triệu chứng chỉ tồn tại 1 - 2 tuần nên người bệnh ít để ý.
Khi vào cơ thể, ấu trùng giun móc cư trú ở phổi, lúc này có thể thấy các biểu hiện ho, khó thở. Vào thời kỳ toàn phát, giun cư trú ở ruột non, bám vào thành ruột và hút máu. Mỗi con giun móc có thể hút 0,1 - 0,4 ml máu/ngày. Lúc này các triệu chứng của thiếu máu sẽ xuất hiện như da xanh, hoa mắt, chóng mặt. Thiếu máu ngày một nặng, ở trẻ em và phụ nữ có thai, tình trạng thiếu máu còn có thể phát triển rầm rộ dẫn đến tử vong. Các biểu hiện lâm sàng của người bị nhiễm giun móc thường là rối loạn tiêu hóa, rối loạn vị giác, buồn nôn, ăn mất ngon, đau bụng vùng quanh rốn hay ở vùng thượng vị như trong bệnh loét dạ dày - tá tràng, đại tiện phân có thể lẫn máu đen... Người bệnh thấy mệt mỏi, làm việc uể oải, chán ăn, nặng chi dưới khi đi lại. Ngoài ra người bệnh cũng có thể có các rối loạn thần kinh như nhức đầu, dễ quên, giảm trương lực cơ...
Khi thấy có các biểu hiện nghi ngờ bị nhiễm giun móc (nhất là với những người sống ở vùng trồng hoa màu sử dụng phân tươi), nên đến trung tâm y tế hoặc các phòng khám chuyên khoa truyền nhiễm để được tư vấn kịp thời. Bệnh giun móc rất dễ bị tái nhiễm, vì vậy điều trị định kỳ là rất cần thiết.
Giun kim: Trẻ bị nhiễm giun kim thường hay mất ngủ, bứt rứt, bồn chồn, ngứa hậu môn, nguyên nhân do giun cái về đêm thường ra ngoài hậu môn đẻ trứng. Những lúc ngứa hậu môn nếu soi đèn có thể phát hiện giun kim ở quanh hậu môn. Bệnh giun kim có thể gây nguy hiểm như viêm ruột thừa cấp do giun chui vào ruột thừa, giun đi lạc chỗ vào thực quản, phổi, âm đạo, bàng quang... gây ra viêm nhiễm do giun kim mang theo vi khuẩn gây bệnh,...
Giun đũa: Trẻ em bị nhiễm giun đũa chiếm từ 80 - 90%. Giun đũa sống ở ruột non của người, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gây ô nhiễm đất, nước. Qua nước, thức ăn, tay bẩn ấu trùng vào cơ thể và trở thành giun trưởng thành. Giun có thể sinh sản tới hàng trăm con trong ruột gây tắc ruột hoặc di chuyển vào đường mật gây áp-xe gan. Trẻ bị nhiễm giun đũa thường đau bụng vùng quanh rốn, nôn ra giun, đi ngoài ra giun, bụng ỏng, gầy yếu. Nếu trẻ đau bụng dữ dội và kéo dài thường là biến chứng của giun như giun chui đường mật, tắc ruột...
Giun tóc: Nếu số lượng nhiễm ít, sẽ không có biểu hiện lâm sàng. Trường hợp nhiễm nhiều, niêm mạc ruột sẽ bị tổn thương nặng và luôn bị kích thích gây nên các triệu chứng buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, hay một hội chứng giống lỵ (đi ngoài nhiều lần, phân lẫn máu, mũi).
Chỗ trực tràng bị viêm và trực tràng bị sa thường phủ đầy giun. Nhiễm giun tóc nhiều sẽ dẫn đến hội chứng thiếu máu. Những trẻ em bị nhiễm giun tóc, dẫn đến bị rối loạn giấc ngủ, nếu kéo dài sẽ dẫn đến bị rối loạn thần kinh gây chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ. Giun tóc ký sinh trong ruột thừa, hoặc chính chúng là tác nhân dẫn vi khuẩn vào gây nên tình trạng viêm ruột thừa.
Cần tẩy giun định kỳ
Theo các bác sĩ khuyến cáo, để phòng bệnh do giun Không nên ăn sống các loại rau thủy sinh như: rau cần, cải xoong..., không uống nước lã. Đối với trẻ em, để tránh nhiễm giun sán nên cho trẻ rửa tay sạch trước khi ăn, sau khi đi đại, tiểu tiện. Thường xuyên cắt móng tay chân, nên đi giày dép và tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần (2 lần/năm). Thường xuyên tổng vệ sinh môi trường nhằm tiêu diệt trứng và ấu trùng giun trong giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh nhằm ngăn ngừa khả năng tái nhiễm của giun qua đường ruột vào cơ thể. Khi có nghi ngờ bị nhiễm giun sán cần phải đến bệnh viện để khám, tư vấn và điều trị.
Bác sĩ Vũ Thị Thu
Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em
Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là các dị tật của buồng tim, van tim, vách tim va các mạch máu lớn, xảy ra từ lúc còn ở bào thai. Tần suất bệnh TBS chung trên thế giới là 8 trên 1000 trẻ ra đời còn sống.
Phân loại bệnh TBS
Môi trường sống tác động rất nhiều lên việc hình thành bệnh TBS. Bệnh TBS có thể là hậu quả của các yếu tố môi trường độc hại (tia phóng xạ, hóa chất, vi trùng, bệnh chuyển hóa…) ảnh hưởng lên người mẹ trong quá trình mang thai. Nguyên nhân gây bệnh TBS còn có thể bị tác động bởi yếu tố gia đình, di truyền, bất thường nhiễm sắc thể.
Bệnh TBS được chia thành 2 nhóm: không tím (trẻ không bị tím da niêm) và có tím (trẻ bị tím da niêm). Các bệnh TBS không tím thường gặp nhất là: thông liên thất (30,5%), thông liên nhĩ (9,8%), còn ống động mạch (9,7%)…
Hiện nay, ngành phẫu thuật tim rất phát triển, phần lớn các bệnh TBS được điều trị khỏi hẳn nhờ phẫu thuật. Một số bệnh lý TBS có tổn thương phức tạp, không thể điều trị hoàn toàn.
Trẻ mắc bệnh TBS nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng cách có thể giúp trẻ phát triển như những trẻ cùng trang lứa, hòa nhập tốt vào xã hội. Chăm sóc tốt cho những trẻ này cũng không phải là vấn đề đơn giản. Chính vì vậy, cha mẹ có vai trò rất lớn trong việc phối hợp với ngành Y tế để điều trị trẻ bị bệnh TBS.
Nhận biết trẻ có bệnh TBS
Trong một số trường hợp, trẻ mắc bệnh TBS nhưng không có biểu hiện gì do dị tật không nặng, chỉ tình cờ được phát hiện khi khám sức khỏe hoặc khám vì một lý do khác. Một số dị tật khác cũng hay đi kèm với bệnh TBS như: hội chứng Down, sứt môi - chẻ vòm, thiếu hoặc thừa ngón tay - ngón chân, tật đầu to, đầu nhỏ... Cần đưa trẻ đi khám bệnh ngay nếu phát hiện trẻ có những triệu chứng khác lạ sau:
- Trẻ hay bị ho, khò khè tái đi tái lại, thở khác thường (thở nhanh, lồng ngực rút lõm khi hít vào), thường bị viêm phổi.
- Trẻ có làn da xanh xao, lạnh, vã mồ hôi. Trẻ bị tím môi, đầu ngón tay, ngón chân, tăng lên khi khóc, khi rặn…
- Trẻ bú hoặc ăn kém, chậm lên cân, thậm chí không tăng cân hay sụt cân. Trẻ chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường (chậm mọc răng, chậm biết lật, bò…).
Khi biết con mình mắc bệnh TBS, cha mẹ cần hỏi bác sĩ chuyên khoa tim mạch về tất cả những vấn đề quan tâm như: đặc điểm tổn thương, diễn tiến của bệnh, cách thức điều trị, nếu có phẫu thuật thì thời điểm nào tốt nhất để phẫu thuật, cách chăm sóc trẻ tại nhà… để có thể hiểu về bệnh của trẻ nhằm xử trí đúng cách.
Chăm sóc trẻ mắc bệnh TBS
Mặc dù nhiều trẻ mắc bệnh TBS có thể sinh hoạt, học tập không khác những đứa trẻ khác nhưng chúng vẫn cần được chăm sóc kỹ lưỡng và đúng cách để có được sức khỏe tốt. Cha mẹ lưu ý:
- Chăm sóc trẻ chu đáo, giữ trẻ ấm, vệ sinh sạch sẽ, cho trẻ ăn uống điều độ, đủ chất.
- Không cho trẻ vận động mạnh hay chơi giỡn quá nhiều, tránh để trẻ gắng sức và làm những công việc nặng nhọc.
- Trẻ cần giữ vệ sinh răng miệng tốt để tránh bị nhiễm trùng, cần uống kháng sinh khi được làm thủ thuật hoặc điều trị răng để phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
- Cho trẻ tái khám đúng theo lịch và tuân theo sự điều trị của bác sĩ, ngay cả khi trẻ đã được phẫu thuật, bởi vì một số bệnh TBS vẫn cần phải theo dõi sau phẫu thuật và khi lớn lên, trẻ có thể gặp một số vấn đề khác về sức khỏe.
Mẹ cần ngừa bệnh TBS cho trẻ khi mang thai
Bệnh TBS là những dị tật xảy ra ngay từ lúc trẻ còn ở thời kỳ bào thai, đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ. Muốn ngừa bệnh TBS, người mẹ cần quan tâm đến những vấn đề sức khỏe trước và trong khi có thai:
- Cải thiện môi trường sống, tránh ô nhiễm.
- Tránh các tác nhân vật lý, hóa học, chất độc, các loại thuốc an thần, nội tiết tố, rượu, thuốc lá…
- Chủng ngừa hoặc tránh tiếp xúc với các nguồn bệnh do siêu vi gây ra như: rubela, quai bị, herpes, cytomegalovirus, coxsaskie B…
- Nếu người mẹ có các bệnh lý chuyển hóa như: đái tháo đường, lupus ban đỏ lan tỏa… thì cần được điều trị.
- Khám và theo dõi thai định kỳ.
BS.CKI. NGÔ BẢO KHOA
Cho trẻ đi sớm, chân có bị vòng kiềng?
Con tôi mới 11 tháng tuổi, cháu đã bắt đầu vịn giường đi men. Chồng tôi ngày nào cũng dẫn cháu đi loanh quanh trong nhà, nói rằng như thế cho cháu nhanh biết đi. Tôi thì sợ nếu ép cháu đi sớm quá sẽ khiến cháu bị vòng kiềng. Rất mong nhận được lời khuyên của bác sĩ.
Trần Thị Lý (Thái Bình)
Trẻ biết đi sớm hay muộn hoàn toàn phụ thuộc vào bản năng, sức khoẻ và độ cứng cáp của trẻ. Việc ép trẻ đứng, đi sớm sẽ gây những tác hại cho sức khoẻ của trẻ sau này.
Tổn thương dễ nhận thấy nhất là ở vùng chân hoặc có dáng đi bất thường. Phổ biến là dáng vòng kiềng, chân đi hình chữ X (đầu gối tì vào nhau, hai bàn chân xòe ra ngoài), chữ O (đầu gối khuỳnh ra ngoài) và chữ K (một chân thẳng, một chân cong), bàn chân bẹt... Đây là hậu quả của việc lạm dụng xe tập đi khi trẻ mới 6 - 7 tháng tuổi, hay do bố mẹ ép con đi sớm khi thấy bé bắt đầu vịn giường đứng lên. Do hệ xương, gân, cơ, dây chằng chưa phát triển đủ để đáp ứng với việc đi lại, hệ vận động của trẻ sẽ bị ảnh hưởng xấu, dễ biến dạng xương chân. Đó là chưa kể, việc lạm dụng cho trẻ sử dụng xe tập đi quá sớm, quá nhiều có thể sẽ làm chậm khả năng biết đứng, biết đi của trẻ bởi trẻ đã quen di chuyển mà không cần cố gắng, lười tập đi bằng đôi chân thực sự của mình.
Trường hợp trẻ bị bất thường về dáng đi như chân cong, bàn chân xoay trong, khó khăn khi ngồi khoanh chân, đi hay bị vấp ngã... cần cho trẻ đi khám sớm, tốt nhất trước khi trẻ được 30 tháng tuổi để được điều trị kịp thời.
ThS. Lê Hưng
Trẻ mắc bệnh tự kỷ do nhiễm hóa chất độc
Bệnh tự kỷ là một căn bệnh của trẻ em, xuất hiện rất sớm, khi trẻ trên 12 tháng hoặc có khi trẻ phát triển bình thường, rồi tự nhiên bị rối loạn các chức năng về tâm lý, ngôn ngữ. Các nhà khoa học cho rằng có thể do nhiễm hóa chất độc hại nên trẻ mắc bệnh tự kỷ.
Bệnh tự kỷ được mô tả lần đầu tiên vào năm 1943, sau đó được nghiên cứu nhiều hơn, nhất là mấy năm gần đây khi các triệu chứng được tiêu chuẩn hóa chính xác hơn, giúp cho việc định bệnh thuận lợi. Biểu hiện bệnh khác biệt rất nhiều, có trẻ chỉ bị nhẹ vẫn có thể sinh hoạt, học hành gần như bình thường. Nhưng có những trường hợp nặng làm cho trẻ không thể sinh hoạt, học tập được. Trong mấy năm gần đây, số trẻ em bị bệnh tự kỷ gia tăng rất cao ở nhiều nước trên thế giới, có thể vì định bệnh chính xác hơn. Một số nhà khoa học cho rằng nguyên nhân vì nạn ô nhiễm môi trường sống, ô nhiễm thực phẩm, nước uống, dụng cụ làm bếp nhiễm hóa chất đã làm cho căn bệnh này gia tăng. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng cần được quan tâm thỏa đáng, vì cho đến nay vẫn chưa có thuốc chữa bệnh tự kỷ, việc điều trị chủ yếu phải dùng tâm lý trị liệu hết sức tốn kém và lâu dài.
Không nên cho trẻ em chơi đồ chơi có chất phtalates vì có thể làm trẻ mắc bệnh tự kỷ.
|
Mẹ dùng mỹ phẩm, con mắc bệnh?
Nhóm nghiên cứu của bác sĩ Philip Landrigan thuộc Đại học Mt Sinai school of Medicine cho rằng, bệnh tự kỷ có thể bị gây ra bởi việc não bộ của bào thai bị nhiễm độc bởi một số hóa chất do người mẹ nhiễm phải khi mang thai, do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất hoặc những dụng cụ nấu bếp, việc bảo quản thực phẩm bị nhiễm độc bởi chất phtalates. Trước đây, y học đã khám phá ra một số trường hợp mắc bệnh tự kỷ ở những trẻ em mà người mẹ đã lỡ dùng phải một vài dược phẩm trong khi mang thai như các thuốc thalidomid, misoprostol, valproic acid. Thai nhi thường bị nhiễm bệnh khi bào thai được 3 tháng, là thời gian mà não bộ bắt đầu hình thành và tăng trưởng. Một số trường hợp dị tật bẩm sinh của não bộ cũng xảy ra khi người mẹ đang mang thai bị mắc bệnh do siêu vi gây ra như chứng bệnh German measles hoặc nhiễm chất độc da cam. Gần đây, ở châu Âu và Hoa Kỳ, người ta đã cấm sử dụng một số hóa chất như acrylamid, bisphenol vì gây ra ung thư hoặc tổn hại cho thần kinh. Trong khi hàng ngàn, hàng vạn trường hợp nhiễm độc các chất chì, thủy ngân, cadmium... đã được giới y học phát hiện, nhưng phải một thời gian khá lâu mới được xác nhận. Chất đang được nghiên cứu hiện nay là phtalates thường có trong nước hoa, keo xịt tóc, thuốc sơn móng tay, thuốc gội đầu, mỹ phẩm. Các đồ dùng như chai lọ, hộp đồ nhựa, bát đĩa bằng plastic để dùng trong các lò microwave cũng có chất phtalates. Những nghiên cứu trên phụ nữ mang thai có nồng độ phtalates cao trong nước tiểu thì tỷ lệ trẻ em bị bệnh tự kỷ cao hơn mức bình thường. Do đó, người ta khuyên rằng những bà mẹ đang mang thai chỉ nên dùng những loại mỹ phẩm được xác nhận là không có chất phtalates.
Các dấu hiệu của trẻ mắc bệnh tự kỷ
Các bậc cha mẹ khi chăm sóc con cái có thể phát hiện bệnh tự kỷ của trẻ dựa vào các biểu hiện như sau: trẻ có những trở ngại về ngôn ngữ như chậm nói, sau 12 tháng vẫn chưa biết nói hoặc trở nên lầm lì, tránh giao tiếp với cha mẹ, anh em, bạn bè hoặc nói ra những câu vô nghĩa. Trở ngại về đời sống xã hội: bệnh nặng thì có thể trở nên cô lập hoàn toàn, sống riêng rẽ, không nghe, không nhìn, không nói; còn bệnh nhẹ thì có thể biểu hiện là nhút nhát, e dè. Nhiều trẻ bị bệnh tự kỷ có những cử chỉ khác thường, máy móc, vô nghĩa như: gõ đập, múa may, lắc lư hoặc quậy phá lung tung bất thường. Hầu hết trẻ bị bệnh tự kỷ thường học rất kém, không bình thường và sau này trở thành một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Một số ít trẻ bị bệnh tự kỷ rất nặng, biểu hiện là tuy tâm trí gần như hoàn toàn tê liệt nhưng lại có một vài tài năng vô cùng xuất chúng về âm nhạc hay toán học. Những người này có khả năng làm được những bài toán cực kỳ phức tạp, đồng thời có một trí nhớ siêu phàm về các cuốn lịch cũng như thời tiết cả chục năm về trước mà chỉ có máy điện toán cực mạnh mới làm nổi. Có một vài trường hợp các em không hề được học về âm nhạc, điêu khắc, hội họa nhưng chỉ cần nghe qua một lần cũng có thể chơi được những bản nhạc cổ điển phức tạp nhất hoặc sáng tác được những tác phẩm nghệ thuật xuất chúng. Có những trường hợp trẻ em bị bệnh tự kỷ không biết đọc, không biết viết, nhưng có thể nhớ được cả một cuốn niên giám điện thoại sau khi đọc qua một lần, đó là hiện tượng "idiot savant" được quay thành phim Rainman, nhưng đến nay khoa học vẫn chưa giải thích được những trường hợp lạ lùng này.
Khoảng 25% các trường hợp bị bệnh tự kỷ có nguyên nhân di truyền. Những gia đình có con em bị bệnh tự kỷ thì tỷ lệ cao hơn có thể lên tới 11%. Cha mẹ lớn tuổi mới sinh con cũng có tỷ lệ trẻ sinh ra bị mắc bệnh tự kỷ cao hơn. Hiện nay, các nhà khoa học y khoa đang cố gắng nghiên cứu nhằm tìm ra những nguyên nhân gây bệnh để tìm cách phòng ngừa căn bệnh khó khăn và tôn kém trong điều trị này.
ThS. Minh Phát
Chăm sóc trẻ bị ho cảm tại nhà
Trẻ em rất dễ bị viêm dường hô hấp, đặc biệt khi thời tiết thay đổi. Trong đó, đa số trường hợp là bệnh nhẹ với các triệu chứng ho, hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi. Thông thường, bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 7 ngày nếu được chăm sóc đúng cách.
Để biết chắc con mình chỉ bị ho cảm thông thường, phụ huynh cần thực hiện các bước sau:
Kiểm tra 4 dấu hiệu nguy hiểm:
- Không uống được hoặc bỏ bú: nghĩa là khi đút từng thìa (muỗng cà phê) nước hay sữa cho trẻ uống nhưng trẻ không nuốt được, hoặc trẻ không thể tự mút khi đưa vú mẹ vào miệng trẻ.
- Nôn tất cả mọi thứ: khi đút từng thìa nước hoặc sữa, trẻ uống được nhưng ngay lập tức trẻ nôn ra ngay. Cho trẻ ngưng vài phút, lặp lại như trên nếu trẻ vẫn ói ngay nghĩa là trẻ có dấu hiệu “nôn tất cả mọi thứ”.
- Co giật: trong cơn co giật, mắt trẻ thường “đứng tròng” hoặc “giật giật”, các cơ vùng mặt cũng co giật theo, hai tay, hai chân co quắp lại. Lưu ý, trẻ có thể sốt cao hoặc không sốt.
- Li bì: trẻ ngủ nhiều hơn bình thường và khó lay gọi, hoặc khi lay gọi trẻ mở mắt nhưng sau đó lại thiếp đi.
Kiểm tra các dấu hiệu nặng:
- Thở nhanh: đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên trong một phút. Nếu nhịp thở từ 60 lần trở lên (đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi), 50 lần (đối với trẻ từ 2 – 12 tháng tuổi) và 40 lần (đối với trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi) thì trẻ đó thở nhanh.
- Thở co lõm ngực: quan sát lồng ngực khi trẻ nằm yên. Bình thường khi hít vào, lồng ngực hai bên nở ra. Nếu khi hít vào, hai bên lồng ngực lõm vào, trẻ bị thở co lõm ngực.
- Thở rít: phụ huynh để tai ở vùng mũi miệng trẻ, mắt quan sát vùng ngực - bụng. Bình thường khi trẻ hít vào, tai ta nghe được tiếng thở của bé có âm sắc nhẹ nhàng. Nếu tai ta nghe một âm sắc thô ráp khi trẻ hít vào, trẻ có dấu hiệu thở rít.
Trẻ bị ho cảm thông thường là trẻ chỉ ho, sổ mũi và không có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm và dấu hiệu nặng nào ở trên.
Hướng dẫn cách chăm sóc
Nếu trẻ bị ho cảm thông thường nên được chăm sóc đúng cách như sau:
- Tiếp tục cho trẻ ăn, bú: khi bị bệnh trẻ thường biếng ăn, biếng bú. Phụ huynh nên khuyến khích và cho trẻ ăn, bú nhiều lần trong ngày. Nếu trẻ bị nghẹt mũi, cần làm thông thoáng mũi trước khi cho bú.
- Cho trẻ uống đủ nước. Nếu trẻ ho nhiều, có thể cho trẻ uống thuốc ho an toàn như: tắc chưng đường, mật ong, tần dày lá hoặc các loại thuốc ho có nguồn gốc thảo dược. Nếu trẻ bị nghẹt mũi, làm thông thoáng mũi:
- Trẻ lớn: hướng dẫn trẻ hỉ mũi đúng cách. Hỉ mũi từng bên. Dùng ngón tay đè một bên mũi, hỉ mạnh bên kia và làm ngược lại. Lưu ý: không được bịt hai mũi cùng một lúc.
- Trẻ nhỏ: phụ huynh dùng giấy mềm xếp góc nhọn (bấc sâu kèn), đưa vừa đủ vào mũi trẻ. Làm vài lần đến khi sạch nước mũi. Trong trường hợp nước mũi đặc gây nghẹt mũi nhiều, phụ huynh nên dùng dung dịch natriclorua 0,9% nhỏ 2 - 3 giọt mỗi bên mũi, sau đó dùng giấy mềm làm sạch mũi như trên.
Theo dõi để phát hiện các dấu hiệu cần đưa trẻ đến bệnh viện khám ngay như: không uống được hoặc bỏ bú, thở mệt, sốt cao.
Những điều không nên làm
- Tự ý dùng các loại thuốc nhỏ mũi có chất co mạch vì có thể gây ngộ độc cho trẻ - rất nguy hiểm.
- Dùng miệng để hút mũi trẻ vì có thể lây bệnh truyền nhiễm.
- Dùng tăm bông để ngoáy mũi vì có thể làm tổn thương mũi trẻ.
BS. NGỌC LAN
Khi nào bé cần đeo hàm giả?
Hàm giả hay còn gọi là phục hình răng ở trẻ em có thể là phục hình cố định hoặc phục hình tháo lắp. Mục tiêu chính là phục hồi lại chức năng nhai, thẩm mỹ, phát âm cũng như giữ chiều dài cung răng và kích thước dọc khớp cắn. Ngoài ra, phục hình còn có mục đích tránh các sang chấn về mặt tâm lý của trẻ (như xấu hổ) khi mất răng và xuất hiện các thói quen xấu.
Trường hợp nào cần đeo răng giả?
Trẻ thường phải đeo hàm giả trong các trường hợp chính sau đây:
- Sâu răng: là nguyên nhân thường gặp. Sâu răng ở trẻ em thường tiến triển nhanh, gây mất tổ chức nhiều hoặc phải nhổ răng trong trường hợp có biến chứng nhiễm khuẩn.
- Chấn thương làm gãy răng hoặc mất răng.
- Bất thường số lượng răng (thiếu răng), hình thể (loạn sản) và cấu trúc (sinh men bất toàn, sinh ngà bất toàn, nhiễm sắc...).
Trẻ có thể sử dụng loại hàm giả nào?
- Hàm giả tháo lắp: Hàm giả tháo lắp được chỉ định trong trường hợp mất nhiều răng ở cùng một cung răng hoặc khi không đủ răng trụ để làm hàm giả cố định; Hàm giả tháo lắp còn được chỉ định trong trường hợp bất thường số lượng răng liên quan đến các hội chứng loạn sản ngoại bì bẩm sinh, sinh ngà bất toàn... Trong trường hợp thiếu nhiều răng, còn một số răng trụ, có thể làm loại hàm giả tháo lắp có nền hàm phủ lên trên các răng còn lại. Chỉ định hàm giả tháo lắp còn phụ thuộc vào các vấn đề chủ quan: mong muốn của trẻ em và bố mẹ. Thông thường ở lứa tuổi 3 - 6, trẻ không chấp nhận đeo bất kì loại hàm giả nào. Sự hợp tác của trẻ và bố mẹ đặc biệt quan trọng trong trường hợp cần đeo hàm loại có nền hàm phủ trên các răng thật. Khi đeo loại hàm giả này đòi hỏi một chế độ vệ sinh răng miệng chặt chẽ và nhiều lần đi kiểm tra định kỳ.
- Kỹ thuật thường dùng: Nên đặt các ốc nong theo chiều đứng ngang để hàm được nong rộng theo sự tăng trưởng của xương hàm, tuy nhiên trong khoảng 3 - 6 tuổi không có sự tăng trưởng theo chiều đứng ngang. Ngoài ra, sự hiện diện của ốc nong làm tăng chiều dày của nhựa, giảm sự lưu giữ, nhất là trong trường hợp hàm giả toàn bộ.
Ở cung răng vĩnh viễn, có thể dự kiến thay thế một hoặc nhiều răng cửa để tránh tình trạng mất khoảng các răng thiếu, nghiêng răng bên cạnh và di gần của các răng nanh. Nhiều trường hợp có thể điều trị thiếu các răng phía trước bằng biện pháp nắn chỉnh răng sẽ phù hợp hơn hoặc phải sử dụng các biện pháp khác như tạo hình bằng composit các răng nanh trong trường hợp thiếu răng cửa bên, đóng khoảng, hàm giả cố định thông thường và cuối cùng là các implant.
Trước khi đeo hàm giả tháo lắp. - Sau khi có hàm giả tháo lắp.
|
Thông thường nhất, hàm giả tháo lắp được làm bằng nhựa, có cùng quy trình giống như người lớn khi làm hàm giả tháo lắp bán phần hay toàn bộ. Vì lý do thẩm mỹ, có thể hoàn thiện hàm giả này bằng nhựa acétalique. Các hàm giả bằng kim loại thì thường dành cho người lớn với cung răng vĩnh viễn.
Trường hợp các răng hàm sữa bị phá hủy nhiều, cần được phục hồi bằng các chụp thép có sẵn để đủ khả năng mang các móc phù hợp. Hàm giả toàn bộ là những ca lâm sàng khó khăn nhất, chẳng hạn như trong các trường hợp không còn xương ổ răng, mào xương ổ răng rất phẳng. Cần thay đổi hàm giả vào thời điểm mọc răng hàm và răng cửa vĩnh viễn. Mặt trong của nền hàm nên làm bằng nhựa mềm để không làm tổn thương niêm mạc của trẻ. Nhựa mềm cho phép giải quyết tạm thời vấn đề lưu giữ và ổn định. Nhược điểm, do là hàm tháo lắp và gây vướng víu nên trẻ em có thể không chấp nhận và không mang, ngoài ra có thể bị gãy vỡ. Nếu hàm giả không được đeo, vài ngày sau có thể gây mất khoảng, do vậy hàm giả cần phải được đeo liên tục trong miệng.
Ngoài ra, để giải quyết tạm thời đặc điểm tháo lắp, đối với vùng răng trước có thể đặt dạng giữ khoảng cố định. Tuy nhiên, loại này dễ bong khâu, khó vệ sinh, mất khoáng men răng dưới khâu.
- Hàm giả cố định: Răng giả cố định ở trẻ em là các loại răng giả gắn cố định vào các răng còn lại, có thể là chụp răng hay cầu răng hoặc một biến thể của răng giả tháo lắp.
- Chụp có sẵn dùng cho trẻ em: Là các loại chụp được sản xuất sẵn theo nhiều kích thước khác nhau cho từng loại răng khác nhau. Chụp có sẵn này có thể được làm bằng thép không gỉ hoặc bằng nhựa carboxylate. Ưu điểm của các loại chụp thép có sẵn là: thao tác nhanh, kết quả tốt, lâu dài hơn so với các phục hồi thông thường, mài răng ít, có khả năng bảo tồn tủy răng cao, giá rẻ, tránh được sâu răng tái phát, giữ được chiều cao khớp cắn, đặc biệt trong các trường hợp bất thường cấu trúc gây mòn răng nhanh, giữ được chiều dài cung răng.
Chỉ định của chụp thép có sẵn: răng sau khi chữa tủy hoặc lấy tủy buồng, răng bị sâu nhiều mặt, răng bị vỡ lớn, răng chấn thương, làm trụ cho hàm giữ khoảng cố định hay tháo lắp hoặc đeo hàm giả, bất thường cấu trúc răng (sinh men bất toàn, sinh ngà bất toàn), dự phòng đa sâu răng và sâu răng tái phát ở các trẻ em có nguy cơ sâu răng cao hoặc trẻ khuyết tật khả năng vệ sinh răng miệng kém. Đối với các răng sữa được lấy tủy buồng, việc phục hồi thân răng bằng các loại chụp là hết sức cần thiết để tránh sự thâm nhiễm nước bọt và/hoặc tránh vỡ thân răng.
Chụp thép có sẵn thường được sử dụng cho các răng hàm sữa và răng hàm vĩnh viễn trẻ mới mọc. Với các răng cửa, vì lý do thẩm mỹ, nên sử dụng các loại chụp có sẵn bằng polycarbonat để đảm bảo tính thẩm mỹ. Các chụp polycarbonat tương hợp tốt với lợi, tạo điều kiện cho bệnh nhân vệ sinh răng miệng tốt.
ThS. Võ Trương Như Ngọc
5 lưu ý khi trẻ uống thuốc sirô
Thuốc dạng sirô thường dùng trên lâm sàng, rất thích hợp với trẻ nhỏ. Bởi khi cho trẻ uống thuốc dạng viên bao, viên nén thường gặp khó khăn do trẻ không thích uống. Do đó, người ta bào chế một số thuốc dưới dạng thuốc sirô có đường ngọt, một số loại thuốc còn có mùi thơm hoa quả thích hợp cho trẻ.
Khi cho trẻ dùng thuốc dạng sirô, cần lưu ý những điều sau:
Thuốc sirô thường có hàm lượng đường cao, không cho trẻ uống thuốc sát ngay trước bữa ăn, vì chất đường trong thuốc có thể ức chế tiết dịch tiêu hóa. Mặt khác, chất đường thường được hấp thu rất nhanh, đường trong máu đứa trẻ tăng lên dễ gây “ngang dạ” làm cho trẻ kém ăn.
Không nên cho trẻ uống thuốc trước khi đi ngủ, vì chất đường ngọt bám vào răng dễ lên men chua làm hỏng men răng gây sâu răng, sún răng. Nếu cho trẻ uống buổi tối, sau đó cần uống nhiều nước, súc miệng kỹ, nếu trẻ lớn có thể đánh răng được thì tốt.
Với các loại thuốc bổ máu có chất sắt (Fer-in-sol; Fer.c.B12; Tothéma; sắt peptonat hòa tan...), nếu dùng cho trẻ em bị thiếu máu do thiếu chất sắt, khi cho uống không cho thuốc tiếp xúc trực tiếp với răng, vì dễ làm cho răng có màu nâu xỉn. Không cho uống thuốc cùng với sữa bò hoặc uống vào sát thời điểm bú mẹ, để tránh tạo thành chất sắt không hòa tan cản trở sự hấp thu sắt. Điểm nữa, khi uống thuốc này, phân trẻ sẽ có màu đen, nhưng điều đó là bình thường không đáng lo.
Thuốc có vị ngọt, lại có mùi thơm hấp dẫn nên trẻ rất thích uống. Bởi vậy cần để thuốc ở nơi cao, xa tầm tay trẻ không tự với lấy được. Nếu không, trẻ sẽ lấy thuốc tự uống dễ gây ngộ độc thuốc.
Khi cho trẻ uống thuốc, cần theo đúng chỉ dẫn về liều lượng số giọt hoặc thìa đong thuốc hợp với từng lứa tuổi của trẻ.
Bs. Vũ Hướng Văn


Thứ Sáu, tháng 8 01, 2014
doanh nhan