This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014
Phát triển chiều cao cho trẻ bằng cách nào?
Con trai tôi được 17 tháng tuổi, cháu nặng 11kg và cao 80cm. Tôi xin hỏi chiều cao và cân nặng của cháu như thế có đạt chuẩn không? Muốn phát triển chiều cao cho cháu thì nên làm thế nào?
Phạm Thị Ngân (Hà Tĩnh)
Theo chuẩn mới do Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra cho trẻ dưới 5 tuổi (áp dụng cho cả trẻ em Việt Nam) thì trẻ trai 18 tháng tuổi cần đạt được cân nặng là 10,9kg và cao 82,3cm. Như vậy, về cân nặng, con bạn phát triển bình thường nhưng về chiều cao thì hơi thấp so với chuẩn mới này. Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tuổi là thời kỳ phát triển chiều cao rất nhanh. Trong 12 tháng đầu đời, trẻ có thể tăng 25cm, trong 2 năm tiếp theo, trẻ có thể tăng 10cm/năm. Con bạn đang ở trong giai đoạn phát triển này, bạn cần có những biện pháp tích cực ngay từ bây giờ để trẻ phát triển chiều cao tối đa bằng dinh dưỡng và đảm bảo giấc ngủ đủ cho trẻ. Những thực phẩm giúp tăng chiều cao bạn nên dùng cho con là chất đạm có trong thịt, cá, trứng, sữa..., canxi chứa nhiều trong sữa, tôm, tép, cá... Ngoài ra còn có vitamin A, vitamin D cũng góp phần giúp hình thành khung xương, hấp thụ canxi và phát triển chiều cao cho trẻ. Ở lứa tuổi của con bạn vẫn nên duy trì cho con bú sữa mẹ và ăn đều đặn 3 bữa chính/ngày, ngoài ra có thể bổ sung thêm các bữa phụ. Về giấc ngủ, trẻ ở tuổi này cần ngủ trên 13 tiếng/ngày. Bạn cần tạo môi trường yên tĩnh, trong lành để trẻ có giấc ngủ sâu, vì khi cơ thể sẽ tiết hormon tăng trưởng, tăng hấp thu canxi, kích thích xương dài ra.
BS. Nguyễn Hải Liên
Vaccin phối hợp mang lại nhiều lợi ích cho trẻ em
GS.TSKH. Nguyễn Văn Mẫn
|
PV: Thưa GS, sản xuất và sử dụng vaccin phối hợp có phải đang là xu thế chung của thế giới?
GS. Nguyễn Văn Mẫn: Trong những năm gần đây công nghệ sản xuất vaccin đã có những bước phát triển vượt bậc nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Ngày càng có nhiều loại vaccin mới phòng chống các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, phổ biến hoặc mới nổi lên được sản xuất góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Việc nghiên cứu và sản xuất các vaccin phối hợp đang trở thành xu hướng phát triển của công nghiệp sản xuất vaccin.
Những sản phẩm vaccin phối hợp rất đa dạng, có thể là kết hợp 2, 3, 4 thậm chí là 5 loại vaccin trong cùng một mũi tiêm như vaccin mà Chương trình Tiêm chủng mở rộng đang sử dụng. Trong tương lai, khi công nghệ càng phát triển, sẽ càng có nhiều bệnh được phòng ngừa bằng vaccin thì các vaccin phối hợp cũng ngày càng được sản xuất thành công.
PV: Gần đây nhiều vaccin với tên gọi là vaccin 4 trong 1, vaccin 5 trong 1, vậy nên hiểu như thế nào?
GS. Nguyễn Văn Mẫn: Đây là cách gọi tắt để chỉ các vaccin phối hợp. Vaccin phối hợp là vaccin kết hợp được từ 2 loại vaccin phòng 2 loại bệnh trở lên trong một mũi tiêm. Ví dụ khi tiêm 1 mũi vaccin MR sẽ phòng được 2 bệnh sởi và Rubella. Khi tiêm vaccin DTP sẽ phòng được 3 bệnh là bạch hầu, ho gà, uốn ván thay vì phải tiêm lần lượt từng loại vaccin riêng lẻ. Vaccin 5 trong 1 dùng trong tiêm chủng mở rộng hiện nay phòng các bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và Hib.
Tiêm vaccin 5 trong 1 cho trẻ ở Hà Nội
|
GS. Nguyễn Văn Mẫn: Không đơn giản là khi ta có các vaccin đơn giá như vaccin bạch hầu, ho gà, uốn ván, Hib, viêm gan B là có thể hoà trộn với nhau thành vaccin phối hợp 5 loại trong 1 mũi tiêm. Công nghệ sản xuất vaccin phối hợp có nhiều phức tạp vì thành phần kháng nguyên và tá dược duy trì sự ổn định của kháng nguyên là khác nhau với mỗi loại vaccin. Khi phối hợp các vaccin khác loại trong một vaccin chung cần đảm bảo được tính sinh miễn dịch cũng như hiệu lực bảo vệ của từng loại vaccin khi dùng riêng rẽ, đặc biệt là tính an toàn của sản phẩm. Mặc dầu có nhiều thách thức song số lượng vaccin phối hợp ngày càng nhiều và đa dạng. Có thể kể đến một số vaccin phối hợp sau:
- Vaccin phối hợp 2 loại vaccin: dT hoặc DT (phòng bạch hầu, ho gà)...
- Vaccin phối hợp 3 loại vaccin: MMR (phòng sởi, quai bị, Rubella)...
- Vaccin phối hợp 4 loại vaccin: vaccin bạch hầu, ho gà, uốn ván và viêm gan B...
- Vaccin phối hợp 5 loại vaccin như đang dùng trong tiêm chủng mở rộng
PV: Vậy lợi ích của việc sử dụng các vaccin phối hợp so với các vaccin đơn giá là như thế nào?
GS. Nguyễn Văn Mẫn: Việc sử dụng vaccin phối hợp mang lại những lợi ích thiết thực trong công tác tiêm chủng phòng bệnh vì: Tăng sự hưởng ứng của cộng đồng. Khi sử dụng vaccin phối hợp sẽ giúp người dân giảm được thời gian đi lại để tiêm chủng từng loại vaccin riêng lẻ, giảm sự do dự mỗi lần đưa trẻ đi tiêm.
Sử dụng vaccin phối hợp giúp tăng tỷ lệ tiêm chủng và giảm được tỷ lệ bỏ sót mũi tiêm: do giảm được ngày công nghỉ đưa trẻ đi tiêm, quên lịch tiêm chủng vì phải tiêm nhiều loại vaccin khác nhau, giảm áp lực công việc cho cán bộ y tế.
Tăng tính an toàn và khả năng đảm bảo vô khuẩn mũi tiêm: Khi phải tiêm nhiều lần, các sai sót trong quá trình thực hành tiêm chủng dễ xảy ra và xác suất xảy ra mũi tiêm không vô khuẩn sẽ tăng lên....
Giảm số mũi tiêm cho trẻ.
Việc sử dụng vaccin phối hợp có ưu điểm rõ rệt so với việc phải sử dụng các loại vaccin đơn giá. Do vậy chắc chắn trong tương lai ngày càng có nhiều loại vaccin phối hợp hơn được sản xuất và sử dụng để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
PV: Xin cảm ơn GS!
Hà Anh (thực hiện)
Vệ sinh da cho bé: Chuyện không nhỏ
Lần đầu tiên làm cha mẹ, có rất nhiều thứ liên quan đến việc chăm sóc bé mà bạn cần phải học như: cách cho trẻ bú, ăn, ngủ, thay tã, tắm rửa... Trong đó, việc tắm rửa và vệ sinh da cho bé là công việc tưởng chừng đơn giản, không mất nhiều thời gian nhưng lại rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe và làn da của bé, nhất là trong mùa hè.
Tắm rửa, vệ sinh da cho bé là việc làm rất quan trọng. Ảnh: N. Khánh
|
Việc tắm rửa cho bé cũng giúp cha mẹ có thời gian kiểm tra cơ thể bé có bị phát ban, nổi mẩn, vùng da nào bị khô, hay có chỗ trầy xước nào không.
Bên cạnh đó, thời gian tắm rửa, chăm sóc da cho bé còn mang lại nhiều lợi ích khác như: kích thích sự lưu thông mạch máu ở tứ chi qua việc massage cơ thể và chân tay của bé, tăng cường sự tương tác tích cực giữa cha mẹ và bé qua ánh mắt, cử chỉ...
Khi vệ sinh da cho bé, cần lưu ý: Việc tắm rửa, giữ vệ sinh da cho bé rất quan trọng. Đối với trẻ sơ sinh (trong khoảng 1 tháng tuổi) bạn có thể cách ngày tắm cho bé 1 lần. Những ngày không tắm cũng phải lau người và vệ sinh bộ phận sinh dục cho bé. Trẻ lớn hơn thì mỗi ngày tắm rửa 1 lần.
Trước khi tắm bé, bạn nên chuẩn bị sẵn các đồ dùng: chậu tắm, sữa tắm dành cho bé, khăn lau, tã sạch, quần áo... Bạn phải thực hiện đúng các bước lau tắm cho bé, kiểm tra nước ấm vừa đủ, chú ý lau rửa kỹ các vùng da có nếp gấp như : cổ, phía sau tai, cổ tay - chân, nách, đùi, bẹn, mông của bé.
Ở trẻ sơ sinh, làn da chưa phát triển một cách hoàn thiện, da dễ bị kích ứng vì vậy bạn cũng cần chọn loại sữa tắm dành riêng cho bé, không chứa các thành phần gây dị ứng, giúp tái tạo và duy trì pH sinh lý da, làm sạch bụi bẩn trên da và thích hợp với da bé. Khi sử dụng các chế phẩm khác để bảo vệ và dưỡng ẩm cho da bé, tốt nhất bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ để có sự lựa chọn phù hợp. Tuyệt đối, bạn không nên dùng xà phòng để tắm cho trẻ nhỏ vì có thể sẽ gây khô da. Sau khi tắm, cần mặc quần áo thoáng rộng, chất liệu vải mềm, có độ thấm hút tốt cho bé.
Bác sĩ Nguyễn Hồng
Cảnh giác bệnh đường tiết niệu ở trẻ
Không chỉ ở người lớn mà ngay cả trẻ sơ sinh vẫn có thể bị viêm đường tiết niệu. Trẻ em bị viêm đường tiết niệu gặp khá nhiều, đứng sau viêm đường hô hấp và viêm đường tiêu hoá. Viêm đường tiết niệu ở trẻ em chủ yếu hay gặp do viêm bàng quang hoặc viêm thận. Đối với trẻ em, kể cả trẻ còn rất nhỏ (sơ sinh) đến trẻ lớn đều có thể mắc các bệnh viêm đường tiết niệu, vì vậy, các bậc phụ huynh không nên chủ quan và cho rằng trẻ em không mắc bệnh viêm đường tiết niệu. Trẻ bị viêm đường tiết niệu nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ để lại di chứng và biến chứng.
Nguyên nhân của viêm đường tiểu ở trẻ em
Có khá nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm đường tiết niệu cho trẻ. Ở bé gái, do cấu tạo sinh lý là niệu đạo ngắn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn nên rất dễ bị lây nhiễm bởi các vi sinh vật từ phân lây sang. Ở bé trai, có một số do có dị dạng ở đường tiểu, nhất là hiện tượng hẹp bao quy đầu làm cho nước tiểu thường xuyên bị ứ lại gây viêm đường tiết niệu ngược dòng. Một số trẻ không mặc quần hoặc mặc quần thủng đít hoặc hay chơi lăn lê trên mặt đất cũng rất dễ bị viêm đường tiết niệu. Ngày nay, việc đóng bỉm cho bé là chuyện bình thường nhưng việc sử dụng bỉm không đúng quy cách cũng có thể làm cho trẻ bị viêm đường tiết niệu, nhất là mỗi khi cả phân và nước tiểu lẫn lộn với nhau tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nên rất dễ làm cho trẻ bị nhiễm vi khuẩn. Viêm đường tiết niệu ở trẻ đôi khi còn do các bậc phụ huynh hoặc cô nuôi dạy trẻ gây ra như việc rửa cho trẻ sau khi trẻ đi vệ sinh. Nếu rửa đít cho trẻ mà rửa từ sau ra trước thì vô tình sẽ đưa vi khuẩn vào lỗ tiểu, nhất là các trẻ em gái. Về căn nguyên gây viêm đường tiết niệu ở trẻ chủ yếu do vi khuẩn E.coli và có thể do một số ký sinh trùng (vi nấm) hoặc do virut. Vi khuẩn E.coli là một loại vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột có nhiều trong phân của người và động vật. Ở ngoại cảnh, vi khuẩn này phân bố khắp nơi (trong đất, bụi, nước và không khí, thực phẩm, rau, quả...) nên rất dễ lây nhiễm sang cho con người mỗi khi có điều kiện, nhất là khi vệ sinh môi trường chưa được cải thiện, vệ sinh cá nhân chưa tốt.
Cha mẹ trẻ cần chú y cặn trắng ở bỉm của trẻ để phát hiện sớm viêm đường tiết niệu.
|
Biểu hiện viêm đường niệu ở trẻ em
Tuỳ theo độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì triệu chứng viêm đường tiết niệu càng kín đáo, khó phát hiện. Trẻ có thể bị sốt nhẹ, sốt kéo dài, đôi khi sốt cao. Người ta thấy rằng có một tỷ lệ khoảng từ 10 - 15% số trẻ không sốt mà thân nhiệt lại giảm. Trẻ có thể biếng ăn, kém chơi, hay quấy khóc, đôi khi có rối loạn tiêu hoá như nôn hoặc tiêu chảy. Đôi khi trẻ khóc khi tiểu bởi bị đau. Một số trẻ em trai lớn hơn có động tác sờ vào chim do khó chịu, đau khi đi tiểu. Trẻ cũng có thể đái dắt, buốt, đi tiểu nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn nên một số trẻ bị viêm đường tiết niệu hay đi tiểu làm cho một số phụ huynh hoặc các cô bảo mẫu hiểu nhầm và đánh giá sai về hành vi của cháu. Trẻ càng lớn thì hiện tượng đái buốt, đái dắt càng rõ nét hơn do trẻ đã nhận biết được. Nước tiểu của trẻ bị viêm đường tiểu có thể đục. Mức độ đục nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian bị viêm đường tiết niệu, nước tiểu được lấy để quan sát vào lúc nào trong ngày (nếu nước tiểu lấy vào lúc sáng sớm thì có thể thấy đục nhưng lấy nước tiểu vào buổi trưa hoặc chiều thì có thể không thấy). Muốn biết trẻ có bị viêm đường tiết niệu hay không, nên căn cứ vào một trong các dấu hiệu (hoặc có nhiều dấu hiệu) như mô tả ở trên. Khi cần thiết phải lấy nước tiểu làm xét nghiệm vi sinh (nhuộm soi và nuôi cấy phân lập vi khuẩn). Qua xét nghiệm vi sinh có thể biết được trong nước tiểu có vi khuẩn hay vi nấm. Xét nghiệm nước tiểu của trẻ nghi nhiễm khuẩn tiết niệu bằng phương pháp vi sinh, qua đó người ta còn làm kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh thích hợp điều trị có hiệu quả nhất cho trẻ. Người ta cũng có thể kiểm tra toàn bộ hệ thống đường tiết niệu bằng siêu âm và một số xét nghiệm cận lâm sàng khác để góp phần chẩn đoán chính xác trẻ có bị viêm đường tiết niệu hay không.
Nên làm gì để ngăn chặn viêm đường tiết niệu ở trẻ?
Phụ huynh có con nhỏ luôn luôn quan tâm đến sức khoẻ của trẻ là điều hết sức cần thiết, không nên phó thác mọi vấn đề cho ông, bà hay cô nuôi trẻ cho dù bận công việc đến đâu đi nữa. Mỗi khi thấy con mình sốt thì dù là sốt nhẹ cũng không được chủ quan và xem thường. Khi trẻ sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, ăn, ngủ, chơi kém, cần cho trẻ đi khám bệnh bởi vì nhiều trường hợp trẻ sốt không rõ nguyên nhân chính lại do viêm đường tiết niệu. Khi đóng bỉm cho trẻ, cần để ý xem có cặn trắng ở bỉm hay không mỗi khi thay bỉm. Cần để ý thay bỉm sau khi trẻ tè, nhất là sau khi trẻ đại tiện cần thay ngay, tránh làm cho lây lan vi khuẩn gây bệnh sang đường tiết niệu, đặc biệt là trẻ em gái. Hằng ngày, nếu thấy trẻ hay sờ tay vào chỗ kín thì phụ huynh cần xem xét có điều gì nghi ngờ hay không? Mỗi khi thấy trẻ em trai đi tiểu bị phồng ở bao quy đầu hoặc đi đái khó là phải cho trẻ đi khám xem trẻ có bị hẹp bao quy đầu hay không bởi vì hẹp bao quy đầu là một trong những nguyên nhân hay gặp gây viêm đường tiết niệu. Cần tập thói quen cho trẻ đi tiểu tự chủ và không để trẻ đái dầm bằng cách trước khi trẻ đi ngủ cần cho trẻ đi tiểu. Mỗi lần vệ sinh cho trẻ sau khi đi ngoài hay đi tiểu, cần lau giấy vệ sinh từ trước ra sau để tránh đưa vi khuẩn vào lỗ tiểu, nhất là các bé gái. Cần cho trẻ uống đủ nước hàng ngày, ăn thêm rau, hoa quả để tăng lượng nước làm cho hệ thống bài tiết nước tiểu của trẻ tốt hơn. Khi nghi ngờ trẻ bị viêm đường tiết niệu, cần cho trẻ đi khám ở cơ sở y tế có đủ điều kiện để trẻ mau chóng được điều trị, không nên chậm trễ sẽ để lại biến chứng như nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm thận dẫn đến suy thận.
|
PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
Cách phát hiện và xử trí
Các bất thường ở thành bụng trẻ sơ sinh là những dị tật bẩm sinh rất nguy hiểm cần đưa đến những trung tâm phẫu thuật nhi để được xử trí sớm. Các bác sĩ nhi cho rằng việc chẩn đoán trước sinh và khám thai thường xuyên là điều cần thiết để có thể chuẩn bị những biện pháp xử trí tốt nhất cho những trường hợp này.
Thoát vị trong dây rốn và khe hở thành bụng
Thoát vị trong dây rốn là dị tật bẩm sinh của thành bụng. Tạng trong ổ bụng chui ra ngoài qua vòng rốn không khép kín và được che phủ bởi màng ối trong mờ, vô mạch. Hầu hết thoát vị trong dây rốn có túi thoát vị với kích thước khác nhau. Màu túi lúc đầu trong, nhìn qua thành túi thấy được các tạng như gan ruột bên trong, sau một vài ngày thành túi mờ đục dần trở thành màu sữa. Cổ túi ở vị trí khuyết thành bụng, có thể rộng hoặc hẹp với kích thước khác nhau. Dây rốn thường lồng dính vào trong thành túi ở vị trí giữa hoặc ở dưới túi.
Biến chứng: Vỡ túi có thể xảy ra ở thời kỳ trước, trong và sau đẻ. Nếu túi thoát vị bị vỡ trong thời kỳ bào thai thì ruột non sẽ ra khỏi ổ bụng và ngâm trong nước ối, sau đẻ dễ nhầm lẫn với khe hở thành bụng. Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn gây viêm phúc mạc. Cổ túi hẹp sẽ gây nghẹt ruột, dẫn đến thủng ruột, tình trạng này xảy ra trong thời kỳ bào thai sẽ gây thủng ruột gây viêm phúc mạc phân su và có thể có teo ruột thứ phát.
Các dị tật phối hợp thường khá cao, khoảng 50% như dị dạng về nhiễm sắc thể, bàng quang lộ ra ngoài, thoát vị hoặc sổ cơ hoành, dị tật về tim mạch...
Nếu trẻ bị dị tật này cần phải chăm sóc cẩn thận, tránh bị vỡ túi thoát vị. Phẫu thuật là biện pháp duy nhất xử trí dị tật và phải tiến hành mổ nhiều lần sao cho đảm bảo đưa hết tạng vào bụng đúng vị trí.
Dị tật khe hở thành bụng: Là ở khe dọc của thành bụng, cạnh rốn mà qua đó ruột nguyên thuỷ chui ra ngoài. Khuyết hụt của thành bụng cạnh rốn thường là bên phải, dây rốn bình thường và thường cách khe hở thành bụng một cầu da. Dị tật này xảy ra vào tuần lễ thứ 9 của bào thai, do rối loạn phát triển lá thành phôi, thiếu khúc cơ nguyên thuỷ và trung mô, tiêu biểu mô. Ruột chui qua khe hở thành bụng ngâm trong nước ối. Do viêm phúc mạc nên thành ruột dày và phù nề, ruột dính vào nhau và rất ngắn, thường có rối loạn quay của ruột. Gan không bị lộ ra ngoài nhưng có thể thấy buồng trứng và tinh hoàn lạc chỗ. Các dị tật và tổn thương phối hợp có thể gặp là teo ruột, hoại tử hồi tràng, thủng tá tràng, viêm ruột hoại tử...
Ngay sau khi sinh, trẻ phải được điều trị ngay thoát vị dây rốn nhưng cần chú ý tình trạng thân nhiệt, bảo vệ ruột lộ ra ngoài và chuyển ngay tới trung tâm phẫu thuật nhi. Sau khi phẫu thuật, trẻ được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, sau đó kết hợp dần với nuôi dưỡng bằng ống thông qua dạ dày - ruột.
Dị tật hậu môn - trực tràng (HMTT)
Đây là dị tật không có lỗ hậu môn, có hoặc không có đường rò từ ống hậu môn, trực tràng ra tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu, cơ quan sinh dục. Sự rối loạn phát triển ở một giai đoạn nào đó của bào thai dẫn đến dị tật này. Có các loại dị tật HMTT sau: cao, trung gian, thấp và hiếm gặp.
Nhận biết bệnh: Đối với dị tật không có rò từ ống hậu môn - trực tràng thì da ở vị trí vết tích hậu môn căng phồng khi trẻ khóc, có thể thấy màu xanh phân su nếu màng bịt hậu môn mỏng, đục mờ. Có thể da ở vị trí hậu môn phẳng hoặc lõm ngay cả khi trẻ khóc. Dùng kim châm nhẹ kích thích da hậu môn thấy có phản xạ co thắt là có cơ thắt ngoài.
Đối với dị tật có lỗ rò hậu môn - trực tràng, phải đợi từ 18 - 24giờ sau đẻ mới có thể đánh giá chính xác được bằng thăm dò hoặc xoa ép nhẹ vùng tầng sinh môn hoặc niệu đạo. Có sự khác nhau giữa nam và nữ.
Ở trẻ trai: Lỗ rò có thể ra ở tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu thường là ở niệu đạo. Lỗ rò ở đường đan của tầng sinh môn hoặc bìu. Trẻ đái ra phân su.
Ở trẻ gái: Phải xem có mấy lỗ ở tầng sinh môn.
Nếu có một lỗ duy nhất tại vị trí giữa hai môi lớn là dị tật thể đặc biệt: còn ổ nhớp. Ở thể bệnh này, niệu đạo, âm đạo, trực tràng đổ chung vào một ống gọi là ổ nhớp. Một thể bệnh hiếm gặp hơn là âm đạo bị teo cao, chỉ có niệu đạo và trực tràng đổ chung vào một ống là hoặc trực tràng teo cao không thông với xoang niệu dục. Khám có dấu hiệu tắc ruột, có thể bí đái, tử cung căng to ứ dịch.
Trường hợp có hai lỗ niệu đạo và âm đạo, không có lỗ hậu môn, nếu phân su ra qua lỗ âm đạo là rò trực tràng - âm đạo (dị tật thể cao hoặc trung gian).
Có 3 lỗ: niệu đạo, âm đạo và một lỗ ở âm hộ hoặc tiền đình hoặc tầng sinh môn. Có thể xảy ra lỗ rò ở tiền đình (vị trí giao nhau của hai môi bé, ngoài màng trinh); lỗ rò âm hộ hay lỗ rò ở tầng sinh môn.
Biện pháp xử trí: Dị tật hậu môn - trực tràng hiện nay được xử trí khá hoàn thiện tại các trung tâm ngoại nhi, tuỳ theo mức độ dị tật và tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân mà tiến hành mổ một lần hoặc nhiều lần. Hầu hết các trường hợp đều cho kết quả tốt.
Phòng bệnh: Ngày nay với kỹ thuật siêu âm và chẩn đoán trước sinh, nhiều dị tật bẩm sinh được phát hiện ngay trong thời kỳ bào thai, giúp cho gia đình bệnh nhân chủ động hơn trong việc chuẩn bị điều trị. Việc phát hiện sớm còn giúp cho bệnh nhân có kết quả điều trị tốt hơn, tránh những biến chứng nguy hiểm. Để phòng các dị tật bẩm sinh, các cặp vợ chồng cần chuẩn bị sức khoẻ tốt khi quyết định sinh con. Người mẹ cần tiêm các loại vaccin phòng bệnh trước khi có thai như vaccin phòng bệnh Rubella, cúm. Trong thời gian mang thai không nên tiếp xúc với các hoá chất độc hại, không sử dụng các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, ăn đủ chất dinh dưỡng, có tinh thần thoải mái. Nếu trong gia đình có người bị dị tật, khi mang thai cần đi thăm khám thường xuyên hơn những người bình thường để kịp thời được tư vấn hướng dẫn biện pháp chăm sóc thai sản và sau sinh.
PGS.TS. Trần Ngọc Bích
Để nhận định đúng về sốt ở trẻ em
Sốt ở trẻ em luôn được các bậc cha mẹ quan tâm, là một trong những lý do chủ yếu khiến cha mẹ hay người chăm sóc đưa trẻ đi khám, cấp cứu. Hiểu biết đúng về sốt có thể giúp cho người lớn chúng ta yên tâm chăm sóc trẻ tại nhà hoặc cho trẻ đến khám sớm tại các cơ sở y tế để được phát hiện và điều trị bệnh kịp thời.
Khi nào được gọi là "sốt"
Theo y văn, một trẻ được gọi là có sốt khi nhiệt độ đo được ở bên trong hậu môn cao hơn 38oC. Nhiệt độ đo được ở các vị trí khác trên cơ thể thường thấp hơn nhiệt độ trong hậu môn. Vì vậy, nếu cặp nhiệt độ ở nách đo được từ 37,5oC trở lên lúc đó được gọi là trẻ có sốt.
Bản thân triệu chứng sốt, tự nó không phải là một dấu hiệu đe dọa đến tính mạng ngoại trừ những trường hợp sốt cực kỳ cao và kéo dài, ví dụ như cao hơn 41,6oC (khi đo bên trong hậu môn). Sốt có thể là dấu hiệu chỉ điểm cho một tình trạng bệnh nặng nhưng nhiều khi chỉ là biểu hiện của một tình trạng nhiễm khuẩn thông thường. Có một trung tâm trong não bộ có tên là "vùng dưới đồi" (hypothalamus) có chức năng kiểm soát toàn bộ nhiệt độ của cơ thể. Khi vùng dưới đồi chỉ huy việc tăng nhiệt độ của cơ thể là một cách để cơ thể chống lại các tác nhân gây nhiễm khuẩn. Sốt là một biểu hiện thường gặp của bệnh nhiễm khuẩn, tuy nhiên còn có những tình trạng bệnh không phải do nhiễm khuẩn nhưng vẫn có thể gây sốt.
Các căn nguyên gây sốt
Sốt không phải là một bệnh, sốt chỉ là một triệu chứng của nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau. Thông thường người ta chia căn nguyên của sốt làm hai loại: sốt do các căn nguyên nhiễm trùng và sốt do các căn nguyên không phải nhiễm khuẩn. Sốt do các căn nguyên nhiễm trùng thông thường là biểu hiện của tình trạng nhiễm virut hoặc vi khuẩn. Sốt do các căn nguyên không nhiễm khuẩn có thể gặp trong nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau ví dụ khi tế bào máu bị phá huỷ; khi quá trình viêm bị rối loạn; khi quá trình thở gặp trục trặc; do mất nước; do say nắng, say nóng; sốt sau khi tiêm vaccin; có khi do chính trung tâm điều nhiệt (vùng dưới đồi) bị trục trặc...
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sốt ở trẻ em.
|
Các biểu hiện thường đi kèm với sốt
Khi trẻ bị sốt, đi cùng với tình trạng nhiệt độ cơ thể tăng cao là một số biểu hiện thường gặp khác như mệt mỏi, quấy khóc, đỏ mặt, vã mồ hôi, rùng mình hay run, trẻ lớn có thể kêu đau đầu... Cần phải để ý, theo dõi diễn biến các dấu hiệu trên, tuy nhiên không nên quá lo lắng, căng thẳng khi thấy các dấu hiệu trên mà nghĩ rằng trẻ có tình trạng bệnh nặng hoặc biến chứng.
Một số trẻ nằm trong nhóm tuổi từ 6 tháng đến 6 tuổi khi nhiệt độ tăng cao đột ngột có thể làm xuất hiện cơn giật lúc đó gọi là trẻ có sốt cao co giật. Khi trẻ co giật có thể nhìn thấy chân, tay và một số bộ phận của cơ thể co giật, mắt trợn ngược. Mặc dù chỉ là sốt cao co giật đơn thuần nhưng nếu được chứng kiến cơn giật cũng thấy rất sợ hãi (nhất là cha mẹ và những người trực tiếp chăm sóc trẻ) tuy nhiên cơn co giật thường không quá 15 phút và trẻ phục hồi hoàn toàn trong vòng 1 giờ.
Làm gì khi trẻ bị sốt
Trong hầu hết các trường hợp, căn nguyên gây sốt ở trẻ là do nhiễm virut, vì vậy trẻ sẽ tự hết sốt, trở lại bình thường sau một vài ngày. Hầu hết các bậc cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ thường cố gắng tìm mọi cách để hạ sốt cho trẻ nhằm mong muốn tránh tình trạng sốt cao co giật có thể xảy ra. Điều này không sai về mặt lý thuyết, tuy nhiên theo kinh nghiệm của nhiều chuyên gia cho rằng chính bản thân tình trạng sốt cũng có nhiều tác dụng tốt với tình trạng của đứa trẻ, cho nên nhiều khi cũng nên để cho cơn sốt làm nhiệm vụ của nó.
Mặc dù vậy cũng cần thiết phải hạ sốt cho trẻ khi trẻ sốt cao. Có thể dùng nước ấm để lau cho trẻ nhưng cũng phải biết lau như thế này có thể làm trẻ run hoặc giật mình hoảng hốt. Vì vậy cũng không nên lau nước ấm toàn thân cho trẻ khi trẻ bị sốt mà chỉ cần lau ở một vài nơi như trán, nách... Việc dùng thuốc hạ sốt cho trẻ vẫn có nhiều quan điểm trái ngược nhưng nhiều chuyên gia cho rằng nên bắt đầu dùng thuốc hạ sốt cho trẻ khi nhiệt độ đo được ở nách không thấp hơn 38,5oC. Thuốc hạ sốt thường được sử dụng là paracetamol với liều dùng không quá 3mg/1kg cân nặng và mỗi lần uống cách nhau ít nhất 4 giờ để tránh gây hại cho gan.
Khi trẻ bị sốt thường mất nhiều nước (qua đường mồ hôi, hô hấp...) vì vậy rất quan trọng là phải động viên khuyến khích cho trẻ uống đủ nước, không cho trẻ ăn "kiêng" khi ốm. Một điều còn quan trọng hơn cả việc cố gắng tìm mọi cách hạ sốt cho trẻ, thậm chí hơn cả thuốc hạ sốt là việc phải theo dõi chặt chẽ tình trạng sốt, cho trẻ nghỉ ngơi và cặp nhiệt độ thường xuyên.
Khi nào đưa trẻ đi bệnh viện?
Cha mẹ, người chăm sóc trẻ phải hiểu, để theo dõi và nhận biết được khi nào đưa trẻ đi khám... Trẻ cần được đưa ngay đến cơ sở y tế khi có ít nhất một trong số các dấu hiệu dưới đây: không uống được hoặc bỏ bú; nôn ra tất cả mọi thứ; co giật; trẻ buồn ngủ một cách khác thường hoặc li bì; trẻ khó thở; nổi ban bất thường; đau đầu nhiều; trẻ có bị sốt sau khi đến vùng có sốt rét, sốt xuất huyết...
Điều này có ý nghĩa trong việc sớm có chẩn đoán tìm căn nguyên gây sốt đồng thời có các can thiệp điều trị kịp thời.
BS. Đào Song Anh
Bất dung nạp sữa: Những sai lầm thường gặp!
Khi trẻ gặp một số vấn đề khó khăn trong việc sử dụng sữa như: nôn trớ, đầy hơi, khó chịu, tiêu chảy, nôn ói, nổi mẩn, phát ban, dị ứng… Nếu không được phát hiện xử trí kịp thời có thể dẫn tới hậu quả trẻ bị phát triển dị ứng đa thức ăn, chàm, thiếu máu, hen suyễn, viêm mũi dị ứng, suy dinh dưỡng… Trên thực tế, tình trạng bệnh của trẻ ngày một nặng thêm, nguyên do xuất phát từ những quan niệm sai lầm của cha mẹ.
Từ nghĩ bệnh không có gì nguy hiểm…
Với nhiều bà mẹ, do không biết con bị dị ứng sữa nên không tìm được giải pháp khắc phục tối ưu nhất. Khác với họ, chị Trần Thanh Hằng biết rõ con mình bị dị ứng sữa nhưng cứ vẫn chặc lưỡi: “Chẳng có vấn đề gì”. Chị kể, do sinh mổ nên khi sinh bé ra 3, 4 ngày đầu, chị vẫn chưa có sữa. Chị phải cho bé bú sữa bò. Bé tiêu hóa bình thường và không có hiện tượng gì đặc biệt cả. Sau đó, bé bú mẹ hoàn toàn, từ tháng thứ 3 trở đi, sữa chị bỗng ít đi phải bổ sung sữa ngoài cho con. Lúc đầu, bé bú rất ngon miệng, nhưng rồi tức thì bé nôn hết chỗ sữa vừa bú. Nôn như vòi rồng tất cả chỗ sữa vừa ăn, chị cho bé uống lại bao nhiêu, bé lại nôn hết bấy nhiêu. Chị phải cho bé nghỉ một cữ bú và ngủ, sau mấy giờ mới cho ăn lại được. Tìm hiểu một thời gian, chị biết là con mình bị dị ứng sữa. Nhưng lại suy nghĩ, trẻ con chuyện ăn uống bị nôn ói là “chuyện thường ngày ở huyện”, bé nôn rồi thì cho ăn lại, chẳng có vấn đề gì. Hơn nữa, sợ đưa bé đi khám lại phải thuốc thang chẳng tốt cho sức khỏe của bé.
…Đến nhầm lẫn với các bệnh lý khác
“chắc con bị bệnh về da”, là suy nghĩ của nhiều bà mẹ khi con có một trong những biểu hiện của dị ứng sữa như: phát ban, nổi mẫn đỏ. Cứ chắc bẩm sữa mẹ là tốt nhất, nên khi thấy con da cứ nổi mẫn đỏ sau mỗi cữ bú, chị Thiên Nhi (Bình Dương) lại cho rằng: chắc do da trẻ em rất nhạy cảm nên dễ bị viêm da do dị ứng. Chị không hề biết rằng: sữa mẹ cũng có thể gây ra tình trạng dị ứng ở trẻ sơ sinh do chế độ ăn uống của người mẹ. Đôi khi, chỉ cần mẹ ăn trứng hoặc uống sữa là trẻ cũng xuất hiện các dấu hiệu của dị ứng do hấp thụ một phần các chất này qua sữa mẹ. Để tránh trường hợp trẻ bị dị ứng khi bú mẹ, người mẹ cần loại bỏ các thực phẩm này ra khỏi bữa ăn.
Tuy nhiên, nghĩ con bị rối loạn tiêu hóa hay viêm đường ruột lại là những sai lầm thường gặp hơn cả. Rất nhiều bà mẹ khi thấy con nôn trớ, đầy hơi, khó chịu thậm chí bị táo bón, tiêu chảy hay đau bụng thì chỉ chăm chăm nghĩ tới việc bé có vấn đề về đường ruột. Theo các BS, những quan niệm sai lầm như: suy nghĩ dị ứng sữa không có vấn đề gì, uống sữa với công thức đạm đậu nành tinh chế có tốt bằng sữa chứa đạm sữa bò hay không? Hoặc chỉ nghĩ tới những bệnh lý khác khi trẻ có các triệu chứng của tình trạng dị ứng sữa… là rất nguy hiểm cho trẻ. Bởi với những trẻ này thì phải điều trị bệnh càng sớm càng tốt.
MINH ANH


Thứ Sáu, tháng 8 01, 2014
doanh nhan